100 năm Lưu Trọng Lư: một kinh nghiệm văn hóa (Về Lưu Trọng Lư)

Ngày 14-06-2011 vừa qua, Hội Nhà văn Việt Nam long trọng tổ chức lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh của nhà thơ Lưu Trọng Lư (1911 – 1991) – mới đây gia đình nhà thơ đính chính năm sinh của ông là 1911, không như tài liệu vẫn ghi 1912.

Cũng trong dịp này, Ban tổ chức đã giới thiệu công trình sưu tầm của Lại Nguyên Ân và Hoàng Minh “Lưu Trọng Lư, tác phẩm truyện ngắn, tiểu thuyết” với 2 tập khổ lớn, dày tới 1.445 trang vừa được NXB Lao động, Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây xuất bản.

Lưu Trọng Lư là thi sĩ lãng mạn thời tiền chiến, quê làng Cao Lao Hạ, xã Hạ Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, nay là làng Hạ Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, sau cư ngụ ở Huế, Hà Nội.

Xuất thân trong một gia đình Nho học, thuở nhỏ học Trường Quốc học Huế, sau bỏ học, gia nhập làng báo ở Hà Nội, Huế..

Năm 1933, ông chủ trương Ngân Sơn Tùng thư ở Huế, từng cộng tác với các báo Phụ nữ tân văn (Sài Gòn), Sông Hương (Huế), Phụ nữ thời đàm, Tiến Hóa, Tân thiếu niên, Tao Đàn, Hà Nội báo (Hà Nội). Đóng góp lớn nhất của ông đối với văn học VN là việc khởi xướng phong trào Thơ mới (1932 – 1945). Tập thơ Tiếng thu (1939) đánh dấu những sáng tạo nghệ thuật của cá nhân ông, đồng thời cũng là dấu ấn của cuộc vận động hiện đại hóa thi ca Việt Nam. Từ sau 1945, ông vẫn tiếp tục hoạt động nghệ thuật, chủ yếu trong lĩnh vực sân khấu, còn sáng tác thi ca của ông lẫn vào giọng điệu chung của thơ thời sự – chính trị, mất dần bản sắc.

Năm 1991, Lưu Trọng Lư qua đời tại Hà Nội, thọ 80 tuổi.

Kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Lưu Trọng Lư là dịp nhìn lại chân dung một thời đại văn nghệ, qua đó thử nêu một kinh nghiệm văn hóa của người đi trước.

Âu cũng là cách ôn cố tri tân.

Kinh nghiệm văn hóa: Đem tâm sức cá nhân cổ súy vô vị lợi cho cái mới

Lưu Trọng Lư là người đi đầu, mở đường phong trào Thơ Mới.

Thơ Mới là tên gọi của một trào lưu nghệ thuật xuất hiện trên văn đàn VN trong nửa đầu thế kỷ XX. Tuy tồn tại vỏn vẹn hơn mười năm (1932 – 1945), nhưng phong trào này đã ghi dấu ấn sâu đậm trên quá trình hội nhập thế giới của văn học VN, đồng thời kết tinh những nét tiêu biểu nhất của quá trình vận động xã hội VN, từ phong kiến Á Đông đến tiếp thu văn minh phương Tây.

Có thể nhắc lại một vài nét nổi bật của phong trào:

Thơ mới là thơ của cái “tôi”, một cái “tôi” chưa bao giờ được biết đến trong thơ cổ điển. Cái “tôi” bấy giờ không làm việc “tải đạo” nữa mà vượt lên những công thức ước lệ, khuôn khổ định sẵn.

Cảm hứng sáng tác của các nhà thơ mới gắn liền với ý thức cá nhân, muốn dùng tiếng nói nghệ thuật để giãi bày cái tôi.

Thể hiện cái tôi, các nhà thơ trong phong trào Thơ mới có khuynh hướng thiên về nghệ thuật lãng mạn (lý tưởng hóa) và hướng vào xúc cảm, trữ tình (diễn tả tình cảm, phần nhiều là những cảm xúc bi quan, buồn sầu, và tâm trạng cô đơn, thất vọng…). Nhiều người cho rằng, sự diễn đạt cái tôi bi quan thất vọng cũng là cách các nhà Thơ mới bày tỏ nhận thức và thái độ đối với hiện thực cuộc sống.

Sự giãi bày cái tôi, khẳng định bản sắc cá nhân, thể hiện màu riêng của con người cá thể trở thành đóng góp đặc biệt của Thơ mới vào văn học sử VN. Tiếng nói nghệ thuật này trở thành lời phủ định thế giới nghệ thuật cổ điển, trung đại, và khẳng định xu thế hiện đại hóa trong nghệ thuật nói riêng và văn hóa nói chung.

Chỉ trong mươi năm, văn học VN đã chào đón sự xuất hiện của hàng loạt tên tuổi mới, những thi sĩ trẻ với tiếng nói hoàn toàn khác xưa. Họ thuộc một thời đại mới và rất ý thức mình không giống thế hệ trước: “Ta là con chim đến từ núi lạ – Ngứa cổ hót chơi” (Xuân Diệu). Đó là các tên tuổi với những tác phẩm nhanh chóng ghi dấu ấn vào văn học sử: Thế Lữ với Nhớ rừng, Cây đàn muôn điệu…, Xuân Diệu với Vội vàng, Nguyệt cầm, Lời kỹ nữ… Huy Cận với Ngậm ngùi, Tràng giang…, Hàn Mặc Tử với tập thơ Đau thương, Chế Lan Viên và tập Điêu tàn, Vũ Hoàng Chương với tập thơ Say. Rồi Nguyễn Bính, Phạm Huy Thông, Vũ Đình Liên, Nguyễn Nhược Pháp, Tế Hanh, Thâm Tâm, T.T.Kh… Và Lưu Trọng Lư với Tiếng thu.

Nhà phê bình văn học Hoài Thanh, qua công trình Thi nhân Việt Nam được viết ngay sau khi phong trào Thơ mới “vừa chẵn mười năm”, đã sớm đưa ra nhận xét: “Tôi quyết rằng trong lịch sử thi ca Việt Nam chưa bao giờ có một thời đại phong phú như thời đại này”. Và ông chứng minh sự phong phú của thời đại Thơ mới: “Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kì dị như Chế Lan Viên,… và thiết tha, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu”.

Mỗi người một vẻ. Mỗi cây bút một điệu hồn. Các thi sĩ Thơ mới không chỉ tạo nên một trào lưu văn học mà còn dựng nên một điểm nhìn – nhìn từ đôi mắt cá nhân cảm nhận cuộc sống, và mở ra những lối đi và cách thể hiện phong phú – hình thức thơ tự do, không bị ràng buộc trong niêm luật.

Ảnh hưởng của cuộc cách tân này còn ảnh hưởng sâu rộng, vượt khỏi khuôn khổ sáng tác thi ca, lan rộng trên những lĩnh vực khác thuộc thế giới tinh thần, tạo nên một nét văn hóa mới cho xã hội vốn in đậm nét truyền thống văn hóa Á Đông. Đó là sắc thái văn hóa hiện đại, hướng đến cá nhân, khác với nét văn hóa cộng đồng truyền thống.

Như vậy bản thân sự ra đời và phát triển của phong trào Thơ mới đã là một cuộc chuyển mình của xã hội VN bước vào xã hội hiện đại, hội nhập xu thế chung của thế giới: tôn trọng và lắng nghe tiếng nói của con người cá nhân.

Người phát động phong trào Thơ mới là Phan Khôi với bài thơ Tình già và thiên nghị luận Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ đăng trên Tập văn mùa xuân do báo Đông Tây xuất bản tại Hà Nội, Tết Nhâm Thân 1932.

Trong thiên nghị luận nói trên, Phan Khôi cổ võ lối thơ mới và đưa bài Tình già của mình làm ví dụ (không phải mẫu mực):

TÌNH GIÀ

Hai mươi bốn năm xưa, một đêm vừa gió lại vừa mưa,

Dưới ngọn đèn mờ, trong gian nhà nhỏ, hai cái đầu xanh kề nhau than thở:

− “Ôi đôi ta, tình thương nhau thì vẫn nặng, mà lấy nhau hẳn đà không đặng;

Để đến nỗi tình trước phụ sau, chi cho bằng sớm liệu mà buông nhau!”

− “Hay! Nói mới bạc làm sao chớ! Buông nhau làm sao cho nỡ?

Thương được chừng nào hay chừng nấy, chẳng qua ông Trời bắt đôi ta phải vậy!

Ta là nhân ngãi, đâu có phải vợ chồng mà tính việc thuỷ chung?”

Hai mươi bốn năm sau, tình cờ đất khách gặp nhau;

Đôi cái đầu đều bạc. Nếu chẳng quen lung, đố có nhìn ra được!

Ôn chuyện cũ mà thôi. Liếc đưa nhau đi rồi! con mắt còn có đuôi!

Bài thơ như một “tuyên ngôn” về sự chia tay, dứt khoát với lối làm thơ cũ, cổ điển, trung đại.

Cổ điển đòi mẫu mực về mọi mặt: thi đề, thi hứng, thi luật… , còn Tình già thì phi mẫu mực, hướng thẳng vào hiện thực cuộc sống, tâm hồn và dùng ngay lời ăn tiếng nói hằng ngày mà làm thơ, không cần trau chuốt, bóng bẩy, ước lệ.

Cổ điển cốt nói chí – ngôn chí, hiện đại chủ nói tình – trữ tình. Sự giãi bày thế giới nội tâm, xúc cảm của con người nhằm thể hiện cái tôi cá nhân giữa thế giới. Có lẽ đó là điều Phan Khôi nhắm vào khi viết thiên nghị luận Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ:

Đại phàm thơ là để tả cảnh, tự tình, mà hoặc tình hoặc cảnh cũng phải quý cho chơn. Lối thơ cũ của ta, ngũ ngôn hay thất ngôn, tuyệt cú hay luật thể thì nó bị câu thúc quá. Mà dầu có phóng ra theo lối thất cổ, như bài Dân quạ đình công đây, cũng vẫn còn bị câu thúc. Hễ bị câu thúc thì nó mất cái chơn đi, không mất hết cũng mất già nửa phần.

Tôi nhìn thấy trong thơ ta có một điều đáng bỉ, là bài nào cũng như bài nấy. Cứ rủ nhau khen hay thì nó là hay, chớ nếu lột tận xương ra mà xem, thì chẳng biết cái hay ở đâu. Như bài Dân quạ đình công đó, chỉ nhờ có đem việc đình công là một việc mới ra mà tả, việc ấy lại hiệp với … người đời nay thành thử người ta ưa, chớ coi kỹ thì nó cũ quá, thiệt tình chẳng phải hay gì.

Bởi vậy tôi rắp toan bày ra một lối thơ mới. Vì nó chưa thành thực nên chưa có thể đặt tên kêu là lối gì được, song có thể cử cái đại ý của lối thơ mới này ra, là: Đem ý thật có trong tâm khảm mình tả ra bằng những câu có vận, mà không phải bó buộc bởi những niêm luật gì hết” (Phan Khôi – bđd).

Nhà thơ Lưu Trọng Lư là người đầu tiên ủng hộ chủ trương của Phan Khôi. Ông cũng như Phan Khôi đều là những người xuất thân từ những gia đình Nho học, nhưng sớm tiếp nhận cái mới của tân học, vì thế nhận ra có sự thôi thúc từ bên trong nhu cầu đổi mới. Đổi mới nhận thức và đổi mới hình thức thể hiện. Vì lẽ đó, Lưu Trọng Lư cảm thấy sốt ruột khi thấy văn đàn vẫn im lặng sau khi Phan Khôi công bố bài nghị luận. Ông viết thư cho Phan Khôi và công bố bức thư trên báo với bút danh Liên Hương, đăng trên báo Phụ nữ tân văn. Bức thư bày tỏ sự ủng hộ chủ trương đổi mới thi ca:

“Cách đây đã lâu, tiên sinh có đưa trình chánh giữa làng thơ một lối thơ mới. Tôi đọc bài ấy rồi tôi cứ đợi mãi, đợi mãi, mà sau tiên sinh không thấy ai nối gót theo, mà chính tiên sinh hình như cũng không buồn giở giói đến việc ấy nữa. Thế là thôi. Cái ‘của mới’ ấy có lẽ chưa thành hợp với với đời nầy. Mấy muôn độc giả đã yên trí như vậy, mà hẳn tiên sinh cũng từng chau mặt giậm chân mà nói rằng: ‘Thôi, không ai ưa thì ta xếp nó lại, đợi khi khác ta hãy mang ra’. Thưa tiên sinh, đợi khi khác, khi nào nữa? Thi ca ta ngày nay đang lúc ngấp ngoải, không có lấy một chút sinh khí, nếu không xoay phương cứu chữa gấp, thì ôi thôi, còn chi là tánh mạng của thi ca. Đừng có nói láy lắt như vậy tiên sinh ạ! Nếu tiên sinh cứ giữ mãi cái thái độ tiêu cực ấy thì bọn thi nhân rỗng tuếch kia còn cứ ca đi hát lại những câu sáo hủ nghìn xưa mà không thấy nở ra được những bậc thi nhân chân chính” (Bức thư ngỏ cùng Phan Khôi tiên sinh sau khi đọc bài “Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ” – Phụ nữ tân văn, S.G., số 153 (tháng 6/1932); đăng lại trên Phong hóa, Hà Nội, số 31 (25/01/1933).

Lưu Trọng Lư nhận ra đề nghị đổi mới thi ca của Phan Khôi là cả một chân trời hứa hẹn cho thế hệ cầm bút trẻ. Và ông quyết theo đuổi con đường mới mẻ đó.

Quyết tâm này của Lưu Trọng Lư thể hiện khát vọng nghệ thuật đồng thời cũng nói lên cảm hứng đời sống của ông. Lưu Trọng Lư muốn cất bước lên đường tiến đến ‘cái của mới’, đoạn tuyệt mọi ‘sáo hủ nghìn xưa’.

Đó là một thái độ dũng cảm và vô vị lợi. Dũng cảm vì sẽ phải hứng chịu búa rìu dư luận (phái bảo vệ thơ cũ tung nhiều đòn phép tấn công). Vô vị lợi vì không cầu danh, màng lợi. Không lợi dụng thi ca, không hướng sức mạnh của tiếng nói nghệ thuật vào những mục đích ngoài giá trị tinh thần, văn hóa và nghệ thuật. Nói theo ngôn ngữ ngày nay, Lưu Trọng Lư không “chính trị hóa” nghệ thuật. Không chỉ vì ông vốn là con người “mơ màng” (chữ của Hoài Thanh dùng để nói về Lưu Trọng Lư trong Thi nhân Việt Nam) mà chính vì ông xác định vị trí của mình thuộc lĩnh vực văn hóa – nghệ thuật và dùng tiếng nói nghệ thuật mà sẻ chia cùng mọi người mọi xúc cảm đang diễn ra trong thế giới nội tâm, không mưu cầu sự khuynh đảo, lấn lướt, áp đặt ý chí lên tha nhân, không dạy đời, huấn đạo.

Hoài Thanh nói mơ màng như Lưu Trọng Lư” là xác đáng và hàm súc. Trí tưởng của Lưu hướng đến một thế giới vượt trên thực tại. Trái tim của ông rung động với cái đẹp thuần túy thẩm mỹ. Một nhân cách như thế đã tô điểm cho cuộc vận động văn hóa một thời nét đẹp không dễ phôi pha. Nét đẹp của tâm hồn mơ mộng. Nét đẹp của khát vọng hướng đến cái mới vô vị lợi.

Kinh nghiệm văn hóa: đưa “riêng” vào “chung”; “chung” đón nhận “riêng”

Đầu năm 1932, Phan Khôi xướng xuất Thơ mới với thiên nghị luận Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ. Cũng trong thiên nghị luận này, ông giới thiệu bài thơ Tình già của mình, như một ví dụ về lối thơ mới. Đến nay bài thơ nhanh chóng được các thế hệ độc giả thừa nhận là tác phẩm đầu tiên của phong trào Thơ mới.

Tuy nhiên, không thể không nói đến Lưu Trọng Lư sau đó không lâu đã trình làng một thể nghiệm ủng hộ Thơ mới. Đó là bài Xuân về. Dù bài thơ không được đưa ra làm bằng chứng thơ đã bước sang lối đi mới như bài Tình già của Phan Khôi, nhưng nay đọc lại vẫn thấy Xuân về là một đóng góp đáng kể, cả về hình thức lẫn nội dung mang phẩm tính “mới”:

Năm vừa rồi

Chàng cùng tôi

Nơi vùng Giáp Mộ

Trong gian nhà cỏ

Tôi quay tơ,

Chàng ngâm thơ

Vườn sau oanh giục giã,

Nhìn ra hoa đua nở

Dừng tay tôi kêu chàng

Này, này ! bạn ! xuân sang

Chàng nhìn xuân mặt hớn hở

Tôi nhìn chàng lòng vồn vã …

Rồi ngày lại ngày

Sắc màu: phai

Lá cành: rụng

Ba gian: trống

Xuân đi

Chàng cũng đi.

Năm nay xuân còn trở lại

Người xưa không thấy tới .

Nét mới dễ nhận ra nơi tác phẩm này của Lưu Trọng Lư là hình thức phi niêm luật và tự do về số câu, số chữ trong bài thơ.

Nhưng hình thức, dù không kém quan trọng, cũng mới chỉ là một khía cạnh, chưa thật sự quyết định phẩm chất mới của tác phẩm nghệ thuật. Hơn nữa, Lưu Trọng Lư vẫn còn phải “mượn” một số thi liệu ước lệ của thơ cũ như “oanh giục giã”, “hoa đua nở” gợi hình ảnh xuân về. Yếu tố quyết định sự cách tân chính là nội dung.

Nội dung Xuân về của Lưu Trọng Lư đã có những tín hiệu cách tân rõ rệt.

Đó là cái mới, sự cách tân tiếng nói trữ tình. Bài thơ là điệu tâm hồn của một người con gái mong đợi chàng trai của mùa xuân “năm vừa rồi”. Nỗi mong đợi người ra đi trở về đã từng gặp trong Chinh phụ ngâm của văn chương cổ điển. Nhưng nếu trong Chinh phụ ngâm là nỗi mong đợi của người cô phụ, thì trong Xuân về là của “tôi” – cô gái quay tơ. Nỗi mong đợi của người chinh phụ vẫn trong khuôn khổ đạo đức, lễ giáo của quan hệ hôn nhân – gia đình. Niềm thương, nỗi nhớ của vợ đối với chồng. Còn nỗi nhớ mong trong Xuân về là của trái tim yêu thương thuần tuý, không đặt trong khuôn khổ lễ giáo và quan hệ tình nghĩa. Ở đây, trong Xuân về, không hướng vào quan hệ thuộc về “nghĩa” (nghĩa lý, nghĩa vụ…), mà thuần túy là tình, là bản sắc thuần chất của tình yêu.

Lưu Trọng Lư, với bài Xuân về, cũng như Phan Khôi qua Tình già, đã mở đường cho dòng thơ tình chiếm ưu thế, đạt địa vị nổi trội trong phong trào Thơ mới, mà “ông hoàng” của dòng thơ này chính là Xuân Diệu, người đã đưa Thơ mới phát triển đến tột đỉnh, với những bài thơ tình bất hủ, kết tinh mọi giá trị cốt lõi của Thơ mới.

Nói đến những giá trị nội dung cốt lõi của Thơ mới, cần phải kể đến Lưu Trọng Lư – người mở đường.

Cũng trong Xuân về, ngoài nội dung giãi bày tâm trạng và tình cảm của cái “tôi” chân thành, tha thiết, còn là nét riêng của nhận thức không gian – thời gian. Một cảm nhận mang dấu ấn chủ quan của cái “tôi”, riêng biệt, không thể lẫn.

Đó là không gian của “tôi”: gian nhà cỏ, vườn sau. Và thời gian cũng của “tôi”: năm vừa rồi, năm nay.

Chính “tôi”, không ai khác, đang cảm nhận không gian – thời gian. Sự cảm nhận hoàn toàn của “tôi”:

Rồi ngày lại ngày

Sắc màu: phai

Lá cành: rụng

Ba gian: trống

Cái phai – rụng – trống của không gian, cũng là dấu tích thời gian, được “tôi” hóa, mang dấu ấn bản sắc của chủ thể trữ tình.

Như vậy, đến Phan Khôi và Lưu Trọng Lư, công cuộc dọn đường cho thi ca thoát ra khỏi khuôn khổ ước lệ đã được Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương chuẩn bị nay đã thực sự hình thành. Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương đã từng mạnh dạn “cá thể hóa” cảm xúc của nhân vật trữ tình: “Vầng trăng ai xẻ làm đôi – Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường” (Truyện Kiều – Nguyễn Du); “Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại – Mảnh tình san sẻ tí con con” (Tự tình – Hồ Xuân Hương). Nay xuất hiện Phan Khôi – một cây bút lý luận, Lưu Trọng Lư – một kẻ “mơ màng”, cả hai đang dốc sức làm thay đổi “tánh mạng của thi ca” (chữ Lưu Trọng Lư dùng trong bức thư gửi Phan Khôi, đã dẫn).

Sau Xuân về, Lưu Trọng Lư giới thiệu với văn đàn điệu tâm hồn của con người “mơ màng”. Với điệu tâm hồn này, Lưu Trọng Lư có mặt trong cõi nhân gian như một cá thể độc lập, riêng biệt, độc đáo.

Phải nói đến Tiếng thu, bài thơ rất ngắn nhưng để đời, hiện diện lâu dài trong vườn thơ Việt Nam như một bông hoa đặc sắc:

Em không nghe mùa thu

Dưới trăng mờ thổn thức ?

Em không nghe rạo rực

Hình ảnh kẻ chinh phu

Trong lòng người cô phụ ?

Em không nghe rừng thu,

Lá thu kêu xào xạc,

Con nai vàng ngơ ngác

Đạp trên lá vàng khô ?

Biết bao bình phẩm về áng thơ ngắn ngủi này. Độc giả thuộc nhiều thế hệ đều đọc bài thơ với tâm thế tiếp nhận tác phẩm như một phát hiện và gợi ra cách cảm mùa thu. Lưu Trọng Lư chia sẻ với độc giả cách cảm của mình và được hưởng ứng, nghĩa là được nhân lên, được gợi ra những cách cảm nhận mới.

Lưu Trọng Lư nhận ra mùa thu qua những “tiếng thu”: tiếng thổn thức dưới trăng mờ, tiếng lòng rạo rực của người cô phụ, tiếng xào xạc của lá… Và còn nữa những tiếng thu bất tận. Bao lâu còn thu và còn người đón thu, thì còn tiếng thu. Tiếng thu bất tận. Bởi lòng người yêu thu bất tận.

Những câu hỏi “Em không nghe…?” vừa là cách chủ thể trữ tình tự bộc lộ, vừa là gợi cho độc giả tiến vào khám phá và cảm nhận mùa thu.

Xưa nay thơ viết về mùa thu không ít, nhưng hiếm người chọn thi tứ “tiếng thu” để tái hiện thu như Lưu Trọng Lư. Tất nhiên hiếm chứ không phải không có. Nguyễn Khuyến nghe tiếng vèo bay của lá thu. Paul Verlaine nghe được khúc ca mùa thu qua tiếng gió thu, tựa như thanh âm đàn vĩ cầm, trong bài Chanson d’Automne (Les sangots longs  – Des violonsDe l’automneBlessent mon coeurD’une langueur monotone…). Nhưng qua Tiếng thu, Lưu Trọng Lư đưa thu đến gần với độc giả, bởi mùa thu không ở đâu xa, mà chính ở những cõi lòng đang mở ra, lắng nghe tiếng thu.

Đôi mắt mơ mộng không chỉ giúp nhà thơ sáng tạo một thế giới khác, thế giới của sự hình dung và muờng tượng, mà còn đem đến cho nhà thơ khả năng khám phá cả một thế giới ẩn tàng bên dưới cuộc sống đời thường, hiện thực. Bài thơ Nắng mới, với đề từ “Tặng hương hồn thầy mẹ”, là một trong rất nhiều ví dụ cho thấy năng lực lạ lùng của các thi sĩ:

Mỗi lần nắng mới hắt bên song,

Xao xác gà trưa gáy não nùng,

Lòng rượi buồn theo thời dĩ vãng,

Chập chờn sống lại những ngày không.

Tôi nhớ me tôi, thuở thiếu thời

Lúc người còn sống tôi lên mười;

Mỗi lần nắng mới reo ngoài nội,

Áo đỏ người đưa trước giậu phơi.

Hình dáng me tôi chửa xóa mờ

Hãy còn mường tượng lúc vào ra:

Nét cười đen nhánh sau tay áo

Trong ánh trưa hè trước giậu thưa.

Bài thơ của một thi sĩ lãng mạn – kẻ mơ màng – lại chiếu những tia sáng vào hiện  thực và làm ánh lên tia hồi quang kỳ diệu của đời sống.

Nhà thơ nhìn “nắng mới reo ngoài nội” mà thấy cả “thuở thiếu thời”. Và trọn thời niên thiếu đọng lại nơi ký ức duy nhất màu “áo đỏ” – áo gấm mặc trong ngày cưới của mẹ. Áo tuy không mặc nữa nhưng năm nào mẹ cũng đem phơi khi có “nắng mới”. Phơi cốt giữ cho áo không hỏng. Áo được lành, mới, nguyên vẹn màu đỏ như tình yêu nguyên vẹn của mẹ đối với cha. Thuở thiếu thời của nhà thơ được nuôi dưỡng bằng tình yêu đỏ thắm, nguyên lành như màu áo gấm ngày cưới và bằng tấm lòng đôn hậu như “nét cười đen nhánh sau tay áo” của mẹ.

Thơ mới với những tác giả tiêu biểu – trong đó có Lưu Trọng Lư – đã đưa vào đời sống xã hội cách nhìn hiện thực, một cách nhìn mộng mơ, vượt trên thực tại, và những xúc cảm mang dấu ấn rõ rệt của cái ‘tôi” tràn trề cảm xúc, chân thật và tha thiết. Buồn vui chân thật. Hy vọng và thất vọng cũng rất chân thật.

Có lẽ nhờ vậy, xã hội cứ thấm dần lối nghĩ và cách cảm của giới văn chương mà hướng dần đến tiêu chí chân thật và thái độ tôn trọng bản sắc cá nhân, cốt tủy của quá trình vận động hiện đại hóa xã hội.

Bản sắc cá nhân, cái riêng, cái “tôi” được lên tiếng và đã thành thực giãi bày. Cộng đồng, cái chung, cái “ta” đón nhận và tôn trọng sự độc đáo, riêng biệt với thái độ không kỳ thị, dị ứng. Phải chăng đây chính là nét văn hóa đặc trưng của xã hội trong giai đoạn chuyển mình, hướng đến hiện đại trong các hai thập niên 30-40 của thế kỷ trước.

Kinh nghiệm văn hóa: khi giọng “riêng” khuất trong dàn đồng ca

Sau 1945, Lưu Trọng Lư vẫn hoạt động văn học nghệ thuật. Ông tiếp tục làm thơ với các tập được xuất bản: Tỏa sáng đôi bờ (1959), Người con gái sông Gianh (1966), Từ đất này (1971). Ông còn viết kịch bản sân khấu và cải lương, như: Nữ diễn viên miền Nam (cải lương), Cây thanh trà (cải lương), Xuân Vỹ Dạ (kịch nói)…

Ngòi bút vẫn có mực nhưng chữ nghĩa xem chừng lẫn vào đâu đó, khó nhận ra. Thơ được in và kịch được dựng, nhưng không phải vì thế đương nhiên thành nghệ thuật. Thế giới nghệ thuật thật khắc nghiệt, không một sức mạnh nào có thể áp đặt được người thưởng lãm. Duy chỉ Chân, Thiện, Mỹ là bất diệt trong cái thế giới ấy.

Khó lòng nhận ra Lưu Trọng Lư của thời Tiếng thu trong những tác phẩm sau này. Không còn con người “mơ màng” nữa, chỉ có con người của thực tế công việc và trách nhiệm. Chu toàn trách nhiệm và hoàn tất công việc, dù do một nhà thơ đảm nhận cũng không thể đem chất lượng công chức thế chỗ cho chất lượng nghệ thuật, coi ngang bằng với tính thẩm mỹ của văn bản.

Lưu Trọng Lư chỉ có thể là chính ông khi ông mơ màng nhìn hiện thực mà mường tượng cả một thế giới vô hình đang chấp chới trong nắng, bên một hàng giậu hiền lành, thân thuộc. Và cũng chỉ có thể là Lưu Trọng Lư khi phát hiện những thanh âm – như tiếng thu – khi nhiều người chưa kịp nghe ra và cũng không mường tượng được thế giới này còn những ‘tiếng’ đang vang động trong cõi người ta.

Năm 1979, nhà thơ viết bài Gửi Ức Trai. Ức Trai là hiệu của Nguyễn Trãi, một gương mặt lớn trong lịch sử VN thời trung đại, một nhân cách lớn và một thi sĩ tài hoa. Nhưng Ức Trai Nguyễn Trãi cũng còn là một bi kịch. Gửi Ức Trai là cảm tác của Lưu Trọng Lư về Nguyễn Trãi:

Người sợ đưa nhanh nhát chổi

Làm bóng hoa tan

Nhưng khi xô một tảng núi bạo tàn

Ức Trai! Người không biết sợ

Thà chịu một vừng trăng đổ vỡ

Để đổi lấy một mặt trời đại nghĩa giữa hành tinh.

Ai yêu như người, cái lẽ hiếu sinh

Một giọt nắng thanh bình

Trên đầu ngọn lúa?

Ai yêu như người, từng tia máu đỏ

Trong da tóc trẻ đẹp con người?

Thuở ấy, ai hơn Ức Trai

Biết trừ bạo, diệt hung

Biết căm loài Tần Hán:

“Hiếu đại, hy công”

“Cùng binh, độc vũ..?”

Ôi! Nhà chiến lược thiên tài

Người mưu sĩ tuyệt vời

Người thơ của  đội quân đất nước

Đã làm bơ phờ xơ xác

Những mũ mãng thiên triều?

Mười năm trời nằm gai nếm mật

Mười năm trời, nghĩa  đội, nhân đeo

Ôi! Một cung đàn tuyệt diệu

Còn dội mãi đến ngàn sau!

Người vẫn đó! Ngọn nến đêm thâu

Với vua bày lo việc nước

Và, nơi chiến địa, viết thư cho giặc

Những bức thư, nghĩa sáng tựa sao trời

Ngọn nến Ức Trai

Có bao giờ tắt được?

Một mình ôm trước nỗi lo đời

Trong chiếc chăn lạnh, choàng vai

Người dành cả hơi nồng cho hậu thế

Là một triết nhân

Người rõ lẽ:

“Làm một nước nghĩa nhân nhỏ bé

Bên một nước lớn vô  độ, tham tàn

Phải chịu điều cay đắng nghìn năm

Để đổi lấy hàng trăm trận thắng”

Nhưng Người ơi! Cây muốn lặng mà gió không ngừng…

Và Ức Trai với mái tóc thời gian còn thơm trắng mãi

Vẫn nắm chặt trong tay ấn tín Liễu Thăng

Dặn cháu con:

Với hùm beo phải vững giáo, chắc thương

Nhưng Nhân nghĩa ngọn cờ, đừng để lọt vào những bàn tay dính máu

Ôi! Ngọt ngào ngọn gió

Gần 600 năm rồi mà  như mới hôm qua

Ức Trai về, lững thững dưới rừng hoa

Như xem lại, một chiều trận mạc… 

Con người Nguyễn Trãi được khai thác ở khía cạnh hào hùng của cuộc đời lẫy lừng chiến tích, đồng thời tấm lòng và quan niệm nhân nghĩa của Nguyễn Trãi cũng được tác giả chọn làm thi hứng:

Người sợ đưa nhanh nhát chổi

Làm bóng hoa tan

Nhưng khi xô một tảng núi bạo tàn

Ức Trai! Người không biết sợ.

Bi kịch cuộc đời Nguyễn Trãi cũng được nhắc đến nhưng thi ảnh còn gượng, chưa đắt:

Thà chịu một vừng trăng đổ vỡ         

Để đổi lấy một mặt trời đại nghĩa giữa hành tinh.

Điều cần nói là “cái tôi” riêng biệt, độc đáo và độc lập của nhà thơ dường như chưa xuất hiện. Dù nhan đề Gửi Ức Trai mặc nhiên hàm ý giãi bày tình riêng của chủ thể trữ tình với đối tượng nhưng giọng điệu của chủ thể trữ tình đã lẫn vào dòng chảy được định hướng chung, vẫn là giọng của một dàn đồng ca:

Ngọn nến Ức Trai

Có bao giờ tắt được?

Một mình ôm trước nỗi lo đời

Trong chiếc chăn lạnh, choàng vai

Người dành cả hơi nồng cho hậu thế

Là một triết nhân

Người rõ lẽ:

“Làm một nước nghĩa nhân nhỏ bé

Bên một nước lớn vô  độ, tham tàn

Phải chịu điều cay đắng nghìn năm

Để đổi lấy hàng trăm trận thắng

Phải chăng tình trạng mờ nhạt giọng riêng của cái “tôi” là sản phẩm của một thời? Phải chăng thực trạng này phản ánh xã hội đang nghèo đi về mặt văn hóa, khi những tiếng nói cá nhân phải nhường chỗ cho phát biểu được định hướng, và như thế sẽ không thu nhận được sự phong phú và đa dạng của muôn giọng, vạn tiếng ở đời. Sẽ không có “tiếng thu”.

Khi không có người nghe “tiếng thu”, mùa thu đã mất đi một vẻ đẹp, mất một đôi mắt thưởng lãm.■