CHÂN TRỜI VÀ NHỮNG NGƯỜI BAY – khổng thành ngọc ’65

cảm nhận thơ & văn xuôi
& sự kiện văn hóa nghệ thuật

Lời mở đầu

Những người đánh thức bình minh gồm 28 bài viết trên trang Văn hóa báo Hiệp Thông, từ số 63 (cuối năm 2010) đến nay. Những bài viết ghi lại cảm nhận về thời sự văn hóa- nghệ thuật, đặc biệt về văn học.

Xuất hiện trên một tập san mang dấu ấn “đạo” như Hiệp Thông, các bài viết trên trang Văn hóa lại gắn với thời sự “đời”, kể cả đôi bài viết về việc đạo, người đạo.

Gắn với thời sự “đời”, một phần vì tác giả không rành chuyện đạo, phần khác, và là lí do chính, thời sự văn hóa-nghệ thuật của “đời” lại có rất nhiều điểm giao thoa với “đạo”.

Điểm giao thoa nổi trội nhất, là cùng hướng đến sự thật và cái đẹp (mời đọc hai bài về Nguyễn Huy Thiệp trong tập sách này, về khám phá đầy đau đớn và sự cảnh báo rất thành tâm của nhà văn về  “mê lộ trên đường tìm chân lý và tìm đạo”). Rồi từ đó mời gọi mọi người hãy tỉnh ngộ, bước ra vùng ánh sáng.

Những bài viết trên trang Văn hóa của Hiệp Thông là một đóng góp nhỏ, nhằm giới thiệu những nỗ lực lớn của những người, qua hoạt động sáng tạo, nghiên cứu, lý luận, biểu diễn…, đã đưa ra một thông điệp chung; mời gọi mọi người hãy tiến đến sự thật và vun đắp cái đẹp.

Những con người thành tâm ấy thời nào và ở đâu cũng có. Họ như những ngôn sứ cho một ngày mai sáng sủa hơn, một chân trời rộng mở hơn. Và lo âu nếu ngày mai ấy không có người dựng lều cư ngụ, và chân trời kia không có người bay đến: “Tôi khóc/ những chân trời/ không có người bay” (thơ Trần Dần). Lại càng lo, nếu trên mặt đất đã có đông đảo người dựng lều, nhưng không nhìn thấy tương lai trên đất ấy; và sẽ càng đáng lo hơn, nếu: “Những người bay/ không có chân trời” (thơ Trần Dần), hoặc có chăng, cũng chỉ là những ảo vọng do con người dựng lên. Dựng lên từ tham vọng và kiêu căng của cái tôi. Một cái tôi không biết kính sợ. Kính sợ lẽ trời. Kính sợ sự thật.

Vì thế, những con người thành tâm vẫn thức trong đêm, hoặc thức dậy trước bình minh, để thúc giục trời hãy sáng lên. Sáng lên, cho mọi người nhìn rõ sự thật. Rồi noi theo sự thật. Và hưng phấn vì vẻ đẹp rạng ngời của sự thật.

Bằng không, trời tối mãi, còn người thì cứ phải lầm lũi. Lầm lũi trên “mê lộ”. Lầm lũi trong “cõi nhân gian bé tí” (Nguyễn Khải).

Những con người thành tâm đó, được giới thiệu trong tập sách này, thuộc nhiều thế hệ. Phần nhiều cùng thời với chúng ta: Trần Dần, Tô Hoài, Phùng Cung, Nguyễn Khải, Nguyễn Huy Thiệp, Trần Văn Thủy, Trần Văn Khê, Nguyễn Ngọc Tư, Sương Nguyệt Minh, Nguyễn Bình Phương. Hoặc trước chúng ta một ít: Petrus Ký, các tác giả trong Tự Lực văn đoàn, Lưu Trọng Lư, Hàn Mặc Tử, Vũ Trọng Phụng. Hoặc xa hơn: Nguyễn Du và Victor Hugo của thế kỷ 19. Đặc biệt những nhân vật “đạo”: Đức Bênêđictô XVI, Đức ông Nguyễn Văn Tài. Linh mục Vũ Khởi Phụng.

Những tên tuổi vừa nêu, và những sự kiện trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật được giới thiệu trong tập sách, đều góp phần “đánh thức bình minh” cho một ngày mới được bắt đầu.

Và như thế, trong những lều trại của nhân gian đang lữ hành, được vang lên lời chúc tụng Sự thật và niềm vui vì đã vượt qua đêm tối và mê lộ.

Trân trọng cảm ơn quý độc giả đã đồng hành và khích lệ người viết qua nhiều số báo. Chân thành cảm ơn Ban biên tập báo Hiệp Thông đã cho phép dùng lại các bài viết này, và đặt lại bút danh theo tên gọi.

                                                                                                                                                                                                                           Tháng Tám 2016

Phần 1

*Trần Dần *Lưu Trọng Lư *Thơ lục bát *Hàn Mặc Tử *Phùng Cung *Nguyễn Bình Phương *Nguyễn Du

Chân trời và những người bay
(về Trần Dần)

 

Trong đám tang Trần Dần, nhà thơ Việt Nam (1926 – 1997), người ta khóc ông bằng chính hai câu thơ ông khóc đời:

Tôi khóc những

                chân trời

                         không

                                  người bay

Lại khóc 

              những người bay

                               không có

chân trời.

Hai câu thơ của thi sĩ quá cố được viết trên một tấm băng-rôn lớn treo ở tang phòng.

Những dòng thơ như đúc kết cuộc đời và số phận người viết với hơn 30 năm làm thơ trong lặng lẽ và cô độc. Trần Dần, một cánh chim bị đuổi khỏi bầu trời, rồi giam cầm trong cô quạnh và rẻ rúng, đang thương xót những “chân trời không có người bay”.

10 năm sau khi qua đời, nhà thơ Trần Dần được truy tặng Giải thưởng Nhà nước 2007 về văn học nghệ thuật. Cùng được vinh danh với ông, còn có các nhà thơ Lê Đạt, Phùng Quán, Hoàng Cầm.

Như vậy cả 4 nhân vật chính trong “vụ Nhân văn – Giai phẩm” năm 1956, sau đúng nửa thế kỷ chịu oan khiên, đều được Nhà nước chính thức thừa nhận công lao đóng góp cho nền văn học nghệ thuật Việt Nam hiện đại. Và như thế, đã gián tiếp “xóa” bản án chưa bao giờ được tuyên (ngoại trừ Nguyễn Hữu Đang và Thụy An lãnh án 15 năm tù), nhưng tên tuổi của họ mỗi khi được nhắc đến đều bị gán cho những từ ngữ thuộc loại tội đại hình.

Nhưng chuyện đã lùi xa vào quá khứ, vả lại trắng – đen, đúng – sai, hay – dở cũng đã được nhìn nhận khá rạch ròi, nên cũng không nhất thiết phải thêm chút nước rửa oan hoặc kể khổ than đau cho người đã khuất.

Hơn nữa, xưa nay nhắc đến Nhân văn – Giai phẩm, đến những tên tuổi như Hoàng Cầm, Phùng Quán, Lê Đạt, Trần Dần…, cũng chỉ thấy nói nhiều về khía cạnh chính trị, kể cả khi trích sáng tác của những nhân vật này, cũng chỉ chọn các dẫn chứng theo tiêu chí chính trị. Còn về tư tưởng và những xúc cảm, những sáng tạo và dự báo, những cảm nhận thực tại và trực giác dự cảm, kể cả những khát vọng và ảo tưởng, đều ít được luận bàn.

Trong khi đó, như chính Trần Dần khi mới 20 tuổi (1946) đã viết trong bản tuyên ngôn nghệ thuật, mang tên Dạ Đài, của nhóm Tượng trưng:

Chúng ta chỉ có một con đường đi để thoát khỏi mê đồ. Chúng ta chỉ có thể dung hợp được thực và hư bằng hình tượng…Thế nên chúng tôi – thi sĩ tượng trưng – chúng tôi sẽ nói lên và chỉ nói lên bằng hình tượng, thứ ngôn ngữ tân kỳ, ngôn ngữ của những thế giới yêu ma, của những thế giới thần nhân mà cũng là của cái thế giới âu sầu đây nữa”.

Ngôn ngữ, ý tưởng của những chàng thi sĩ trong nhóm Tượng trưng (gồm Trần Dần, Trần Mai Châu, Đinh Hùng, Vũ Hoàng Địch, Vũ Hoàng Chương…) thật mạnh mẽ và táo bạo, tràn trề nhiệt huyết, khát vọng. Khát vọng và nhiệt huyết cách tân, vượt khỏi cái cũ đã quen thuộc đến nhẵn mòn.

Vì thế, nói đến Trần Dần, nhiều người xưa nay chỉ nhớ những câu thơ giàu màu sắc “chính trị” như trong bài Nhất định thắng:

Tôi bước đi

                không thấy phố

                               không thấy nhà

Chỉ thấy mưa sa

                     trên màu cờ đỏ

Những dòng thơ bậc thang (một thể thơ tiếp nhận từ Mai-a-côp-xki – nhà thơ Nga) trên đây của Trần Dần, quả rất đắc địa nếu muốn đưa làm dẫn chứng về tinh thần phản kháng của các thi sĩ miền Bắc vào cuối những năm 1950.

Nhưng Trần Dần không chỉ có những câu thơ “phản kháng”, hoặc nói đúng hơn, không chỉ phản kháng một chế độ cụ thể, mà phản kháng mọi cái cũ, cái làm nghèo nhân văn và năng lực sáng tạo của con người.

Ông say mê cái mới. Ông muốn cách tân.

Và như vậy, Trần Dần cần được khám phá lại. Nói đúng hơn, cần tái khám phá khát vọng đổi mới nơi một con người cụ thể.

Con người đó chính là Trần Dần.

Nhà thơ Trần Dần (1926 – 1997)

Theo Trần Dần – Ghi, 1954-1960 (Phạm Thị Hoài biên tập, được xuất bản năm 2001, do nhóm chủ trương Tủ sách về Trần Dần “TD Mémoire” thực hiện tại Paris), cuộc đời nhà thơ – nhà cách tân Trần Dần được ghi nhận như sau:

Trần Dần sinh ngày 23-8-1926 (tức 16-7 năm Bính Dần) trong một gia đình khá giả tại phố Năng Tĩnh, thành phố Nam Định. Học tiểu học, cao đẳng tiểu học và đậu bằng Thành chung tại Nam Định, sau đó học trung học tại Hà Nội, đậu Tú tài Pháp, lúc này Trần Dần yêu thích thơ Baudelaire, Verlaine, thi ca của phái Tượng trưng và bắt đầu làm thơ.

17 tuổi (1943), Trần Dần bắt đầu quan hệ với nhóm văn nghệ cánh tả xung quanh nhà xuất bản Hàn Thuyên: Trương Tửu (tức Nguyễn Bách Khoa), Lương Đức Thiệp…, ông viết Chiều mưa trước cửa (thơ).

Năm 1946, Trần Dần cùng Trần Mai Châu, Đinh Hùng, Vũ Hoàng Địch, Vũ Hoàng Chương… lập nhóm thi sĩ tượng trưng và ra báo Dạ Đài.

Tạp chí Dạ Đài ra số 1 ngày 16/11/1946, đăng bản tuyên ngôn của phái Tượng Trưng do Trần Dần viết. Số 2 chưa kịp ra mắt thì chiến tranh Việt – Pháp bùng nổ.

Năm 1948, Trần Dần gia nhập Vệ Quốc Đoàn, lúc đầu tham gia chiến đấu ở Thượng Lào và biên giới Tây Bắc, sau làm công tác tuyên truyền, hoạt động văn nghệ và báo chí. Năm 1950, ông tham gia sáng lập nhóm Sông Đà, nhóm văn nghệ đầu tiên của quân đội.

Các tác phẩm hội họa theo lối lập thể cũng như hình thức thơ bậc thang của Trần Dần bị các quan chức chê là khó hiểu. Do bất đồng ngày càng rõ ràng với các cán bộ chính trị ở trung đoàn, ông xin chuyển công tác về Phòng Văn Nghệ Quân Đội thuộc Tổng Cục Chính Trị.

Năm 1953, Luật cải cách ruộng đất được ban hành. Trần Dần tham gia ban giảng huấn các khoá đào tạo cán bộ văn công, bị phê bình là giảng sai chính sách văn nghệ của Đảng.

Ngày 13-03-1954, chiến dịch Điện Biên Phủ bắt đầu, Trần Dần tình nguyện tham gia chiến dịch cùng với nhạc sĩ Đỗ Nhuận và hoạ sĩ Tô Ngọc Vân, thủ trưởng đơn vị là tướng Trần Độ.

Sau khi cuộc chiến tranh Pháp – Việt kết thúc, Trần Dần về Hà Nội, gặp bà Bùi Thị Ngọc Khuê, một tín hữu Công giáo, ông quyết định kết hôn với bà bất chấp sự phản đối của các cấp lãnh đạo đồng thời viết đơn yêu cầu được giải ngũ và ra khỏi Đảng.

Tháng Ba 1955, Trần Dần lên tiếng phê bình tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu.

Tháng Tư 1955, Trần Dần cùng Đỗ Nhuận, Hoàng Tích Linh, Hoàng Cầm, Trúc Lâm, Tử Phác đệ trình Dự thảo đề nghị cho một chính sách văn hoá yêu cầu tự do sáng tác, trả quyền lãnh đạo văn nghệ về tay văn nghệ sĩ, sửa đổi chính sách văn nghệ trong quân đội…

Từ 13-6 đến 14-9, Trần Dần bị giam theo quân kỷ để kiểm thảo.

Cuối tháng Giêng 1956, trong lúc Trần Dần đi thực tế cải cách ruộng đất tại Bắc Ninh, Hoàng Cầm cho đăng bài thơ Nhất định thắng trong Giai Phẩm Mùa Xuân. Tạp chí bị tịch thu.

Giữa tháng Hai, Trần Dần trở về Hà Nội. Hội Văn Nghệ tổ chức hội nghị phê bình bài thơ Nhất định thắng với 150 văn nghệ sĩ tham dự. Trần Dần bị kết án là đồ đệ của Hồ Phong (Trung Quốc), mất lập trường giai cấp và đi ngược lại đường lối và bị giam 3 tháng tại Hoả Lò, Hà Nội.

Tháng Bảy 1956, hoàn thành cải cách ruộng đất ở miền Bắc.

Tháng Tám, lớp học 18 ngày của Hội Văn Nghệ Việt Nam về đường lối cải cách chống tệ sùng bái cá nhân Stalin tại Liên Xô. Cũng trong năm 1956 báo Nhân văn và một số tạp chí Giai phẩm được xuất bản.

Tháng Chín 1956, Hội nghị Trung ương lần thứ 10 về sửa chữa sai lầm trong Cải cách ruộng đất.

Tuy nhiên, sau đó đã có những diễn biến mới. Ngày 15-12-1956, Ủy ban Hành chính Hà Nội ra thông báo đóng cửa báo Nhân Văn. Số 6 (số cuối cùng) của Nhân Văn không được in.

Từ ngày 20 đến 28-2-1957, Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ 2 tại Hà Nội với gần 500 đại biểu. Một số nhà lãnh đạo đến phát biểu, kêu gọi văn nghệ sĩ phản đối nhóm Nhân Văn – Giai Phẩm.

Cuộc vận động chống Nhân văn – Giai phẩm kéo dài nhiều tháng sau đó. Ngày 7-7-1957, thông báo kỷ luật các văn nghệ sĩ đã tham gia Nhân Văn-Giai Phẩm. Trần Dần bị khai trừ khỏi Hội Nhà văn và đình chỉ xuất bản trong thời hạn 3 năm.

– Từ 22-8-1957 đến tháng Hai 1959, Trần Dần đi lao động cải tạo tại nông trường Chí Linh cùng với Lê Đạt, Đặng Đình Hưng, Tử Phác.

Sau khi kết thúc thời gian cải tạo, Trần Dần bắt đầu viết Cổng tỉnh (thơ-tiểu thuyết, mãi đến 1994 mới được xuất bản và được tặng Giải thưởng của Hội Nhà văn năm 1995). Tháng 11, Trần Dần được phân công dịch sách tại Hội Nhà Văn cùng với Lê Đạt, Phùng Cung, Nguyễn Khắc Dực.

Từ đó Trần Dần sống âm thầm tại Hà Nội bằng nghề dịch sách và tô màu ảnh, đứng ngoài mọi sinh hoạt văn nghệ chính thống, cho đến 1988, cùng với Lê Đạt, Hoàng Cầm…, Trần Dần được mời tham gia sinh hoạt văn học trở lại.

Năm 1997, Trần Dần qua đời tại Hà Nội. Năm 2007, được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật.

Tác phẩm chính của Trần Dần:

Thơ: Chiều mưa trước cửa (1943), Hồn xanh dị kỳ  (1944), Nhất định thắng (1956), Jờ Joạcx (1963, xuất bản di cảo), Động đất tâm thần (Nhật ký – thơ, 1974), Thơ không lời – Mây không lời (Thơ – hoạ, 1978), bộ tam Thiên Thanh – 77 – Ngày ngày (1979), bộ tam 36 – Thở dài – Tư Mã zâng sao (1980), Thơ mini (1988), Đi! Đây Việt Bắc (Trường ca, 1957, xuất bản năm 1990), Cổng tỉnh (Thơ – tiểu thuyết, 1959-1960, xuất bản năm 1994), Mùa sạch (1964, xuất bản năm 1998)…

Tiểu thuyết: Người người lớp lớp (1954), Đêm núm sen (1961, chưa xuất bản), Những ngã tư và những cột đèn (1964, xuất bản năm 2011), Một ngày Cẩm Phả (1965, chưa xuất bản).

Nhật ký: Ghi (1954-1960, xuất bản di cảo 2001).

Trần Dần, một khát vọng cách tân

Như đã nói trên, từ năm 20 tuổi, qua việc thành lập nhóm Dạ Đài, chủ trương nghệ thuật Tượng trưng, Trần Dần đã bộc lộ khát vọng mãnh liệt về cách tân nghệ thuật. Ông thay mặt cả nhóm viết tuyên ngôn khởi xướng nghệ thuật Tượng trưng cho nền văn học Việt Nam hiện đại.

Trong “Tuyên ngôn”, Trần Dần nói rõ vì sao phải cách tân:

Không thể rung cảm chúng ta nữa cái văn chương cổ tích chỉ có một chiều, chỉ nhắc gợi một cõi đất, một tâm tình”.

Trần Dần cảm thấy thế giới nghệ thuật của thi ca tiền chiến 1932-1945 đã lỗi thời. Dù các thi sĩ tiền chiến cách đó không lâu được mệnh danh là những nhà thơ mới, vậy mà đến 1946, Trần Dần gọi văn chương của họ là “cổ tích”, nghĩa là mất hết sức sống, không mang hơi thở thời đại “chỉ nhắc gợi một cõi đất, một tâm tình”.

Vậy, phải đổi mới.

Đổi mới như thế nào?

Trần Dần nêu cụ thể:

“Sau cái thế giới hiện trên hàng chữ, phải ẩn giấu muôn nghìn thế giới, cả thế giới đương thành và đương hủy. Bọn lãng mạn, sau khi chùi xong nước mắt lại lảm nhảm nói chuyện những nàng tiên. Chúng ta phải nhớ rằng chúng ta đương kể những câu chuyện cổ tích cho người đứng tuổi nghe. Phải gây nên cả hai không khí hoang đường và hiện thực… Chúng ta cũng không thể tách lập được hẳn thực hư, và chia đôi địa trấn bằng một bờ sao rõ rệt…”.

Phải đổi mới thơ, không đi trên con đường cũ, con đường “chùi xong nước mắt lại lảm nhảm nói chuyện những nàng tiên” ủy mị, lâm li.

Vậy, trước hết, cách tân là lìa bỏ cái cũ, tiếp đến, tạo nên cái mới.

Cái mới của thi ca là mạnh mẽ sống với thực tại, đồng thời cũng mạnh mẽ vượt thoát thực tại, vươn đến những dự cảm về một thế giới có sức nâng con người lên, ra khỏi những giới hạn tầm thường và quen thuộc, giam hãm con người trong những khuôn mẫu:

Thế nên chúng tôi – thi sĩ tượng trưng – chúng tôi sẽ đón về đây tất cả những thế giới quay cuồng, chúng tôi sẽ bắt một vầng trăng phải lặn, một ánh sao phải mờ đi, một chế độ phải tàn vong và một bài thơ phải vô cùng linh động”.

Đối với Trần Dần và những nhà thơ đồng chí hướng cách tân, “một vầng trăng”, “một vì sao”, “một chế độ” dù đẹp đến đâu cũng sẽ trở thành cổ tích, vì vậy thi sĩ là người có nhiệm vụ bắt “vầng trăng phải lặn”, “ánh sao phải mờ đi” “một chế độ phải tàn vong”.

Một nhà thơ làm sao có sức mạnh chuyển núi dời non như vậy? Trần Dần trả lời: “Chúng ta chỉ có một con đường đi để thoát khỏi mê đồ. Chúng ta chỉ có thể dung hợp được thực và hư bằng hình tượng. Thế nên chúng tôi – thi sĩ tượng trưng – chúng tôi sẽ nói lên và chỉ nói lên bằng hình tượng, thứ ngôn ngữ tân kỳ, ngôn ngữ của những thế giới yêu ma, của những thế giới thần nhân mà cũng là của cái thế giới âu sầu đây nữa”.

Sức mạnh của nhà thơ – tất nhiên của các nghệ sĩ thuộc các loại hình nghệ thuật khác nữa – chính là khả năng sáng tạo hình tượng. Nhờ khả năng này, đồng thời cũng phải thực sự có khả năng, các thi sĩ sẽ khiến công chúng phải giật mình nhận ra mình đang sống trong cái cũ: lối nghĩ cũ, thói quen cũ, cái nhìn cũ… Và biết kinh ngạc trước cái mới: tư duy mới, nhận thức mới, xúc cảm mới, nếp sống mới…

Ông viết trong Thơ mini:

“Tôi thích viết cái chưa biết

Mặc các ông viết cái đã biết”.

Nhà thơ được trời đất sinh ra để đi tìm và viết về “cái chưa biết”. Còn cái đã biết thì không phải là thơ.

Trần Dần biết sẽ đến ngày mình không còn khả năng nhìn ra “cái chưa biết”, nghĩa là đã hết đời thơ, đã cũ.

Chính vì thế, mấy chục năm sau một đời làm thơ, Trần Dần mong lớp trẻ phủ định và đem ông đi chôn như ông đã chôn các nhà thơ tiền chiến. Ông biết mình đang cũ đi, vì thế phải được lớp người mới thay thế. Nhà văn Phạm Thị Hoài thuật lại lời của Trần Dần: “Tôi sốt ruột đợi lớp trẻ lớn lên để chôn chúng tôi, như chúng tôi đã chôn tiền chiến”. Và ông từng nói với các nhà văn trong lần vào Huế sau khi được giải mối oan suốt 30 năm: “Với tôi, Du (tức Nguyễn Du), Hương (tức Hồ Xuân Hương), Khiêm (Nguyễn Bỉnh Khiêm), Quát (Cao Bá Quát) hay Hàn Mặc Tử, Vũ Hoàng Chương là thầy. Nhưng học trò phải ‘chôn’ thầy” (Theo Nguyễn Trọng Tạo: Nhà văn cảm và luận).

Với khát vọng cách tân, Trần Dần đã tìm đến và hăng hái cống hiến cho một cuộc cách mạng. Rồi cũng vẫn trung thành và bền bỉ theo đuổi khát vọng ấy, ông đã chia tay cuộc cách mạng, khi nhận ra nó bắt đầu xơ hóa, không còn mềm mại và nhạy bén, sẵn sàng đón nhận và hấp thụ cái mới.

Một cuộc chia tay hệt như Mai-a-côp-xki (1893 – 1930) ở Liên Xô, lá cờ đầu của thi ca Xô-viết – thi sĩ được Trần Dần ngưỡng mộ. Mai-a-côp-xki tự thú sự vỡ mộng sau 13 năm tán dương chế độ xô-viết: “Cuộc đời tôi/ Tan vỡ/ Chiếc thuyền tình”. Mai-a đã chia tay cuộc cách mạng và tự kết liễu đời mình trong tuyệt vọng.

Hoặc như trước đó Ê-xê-nin (1895 – 1925), nhà thơ Nga Xô-viết, cũng đã tìm đến cái chết sau khi nhận ra cuộc cách mạng trần gian chỉ là ảo tưởng. Ông viết bài thơ Thư gửi mẹ, trút tâm sự đời mình: “Đừng gọi con như tám năm về trước/ Đừng thức dậy những ước mơ đã mất/ Đừng gợi chi những mộng đẹp không thành/ Đời con nay đã thấm nỗi nhọc nhằn/ Đã sớm chịu bao điều mất mát”.

Trần Dần không tìm đến cái chết (dù đã có lần trong trại cải tạo, ông lấy dao lam cứa cổ, nhưng chỉ thể hiện một cử chỉ tượng trưng, như muốn nói với lãnh đạo về sự bất bình), ông rút vào trong im lặng và tiếp tục giấc mơ văn chương, như một cách khẳng định bản thân vẫn tiếp tục tồn tại, hiện hữu. Một hiện hữu cô độc nhưng mạnh mẽ. Mạnh mẽ và thong dong:

“Hai mắt đen ngàn lệ nhé

Tôi vẫn thõng tay trong chợ bụi đông người” (Thơ mini).

Trần Dần, một định nghĩa về cách tân

Nhà thơ Phan Bội Châu, nhà tiền bối cách mạng đầu thế kỉ XX, đã từng dặn dò học sinh trường La-san Pellerin và Quốc học (Huế): “Mới thế này là mới, hỡi chư quân/ Chữ rằng: Nhật nhật tân, hựu nhật tân” (Ngày ngày mới, lại ngày mới).

Niềm mong mỏi của bậc chí sĩ lão thành, sau một đời bôn ba hoạt động, đối với thế hệ trẻ là phải đổi mới, cách tân, cách mạng.

Đổi mới là dấu hiệu của sự sống đang diễn tiến, phát triển. Cưỡng lại và phủ nhận cái mới là dấu chỉ ngưng đọng, trì trệ, lão hóa. Phát triển là nhân văn. Trì trệ thì phản nhân văn. Biểu hiện rõ rệt nhất của tinh thần nhân văn là ủng hộ cái mới, mở đường và giúp cái mới chào đời.

Đóng đinh và mai táng cái mới trong nấm mồ là hành vi muôn thuở của mọi não trạng và cơ chế chống lại sự sống con người.

Trần Dần, qua trải nghiệm cuộc đời, hiểu rõ bản thân mình và mọi người được kêu gọi ra khỏi những khuôn khổ chật chội, những hình thái đa dạng của nấm mồ, để khát khao vươn lên cái mới. Ông viết bài thơ mini bốn câu phá cách, phá bỏ khuôn khổ ngôn ngữ, tiếp nhận những ngôn từ – có người coi là hổ lốn, nhưng với ông thì được tất, miễn sao phô bày được tư tưởng và sự xúc động:

“Sinh tôi làm gì

 Tôi không hợp grammaire nào cả

Sinh tôi đã có grammaire cho tất cả

Ắt là không juýt cho tôi”.

Lịch sử loài người cho thấy, mọi thời đều xuất hiện ý chí quyền lực, muốn tạo ra các “văn phạm” – grammaire, rồi quy sự sống vào các phạm, các quy tắc, cơ chế. Ngôn ngữ thì có văn phạm. Xã hội thì có thể chế. Kể cả tinh thần của con người, không ít cá nhân và thế lực còn muốn bắt tư duy phải rập vào khuôn phép, quy phạm của những chủ thuyết, chủ nghĩa, giáo điều… Sự cưỡng bức có khi đến cực đoan. Những cực đoan có khi đầy đe dọa, nhe nanh vuốt đối với con người. Trần Dần thấu hiểu sự cực đoan này:

“Anh cứ mó thử một dấu phẩy văn phạm xã hội

Vuốt râu hùm xám còn đỡ nguy hơn” (Thơ mini)

Ông gọi đó là một kiểu “ăn gian”. Nghĩa là đánh lừa đối tác. Thoạt đầu thì hứa hẹn, về sau lộ chân tướng chuyên chế. Trước hết, hứa hẹn tự do, sau lại giam hãm, trói buộc. Trần Dần cay đắng:

“Nhân loại- tôi không chơi với các anh nữa

Ván nào anh cũng ăn gian” (Thơ mini)

Ông tự rút ra cho mình một kinh nghiệm về tự do. Tự do để cách tân. Tự do để không bị trì trệ. Muốn vậy, phải mạnh mẽ và dứt khoát lìa bỏ, thậm chí “vi phạm” cái người đời cho là “tất yếu”, là “grammaire – quy phạm”. Ông viết trong bài thơ – một câu:

“Tự do là vi phạm chứ không tuân theo tất yếu” (Thơ mini)

Cuộc đời làm thơ, viết văn, vẽ tranh (kể cả tô ảnh màu để kiếm sống ở phố Tràng Tiền) là một hành trình theo đuổi khát vọng cách tân.

Hành động cách tân trong sáng tạo nghệ thuật của Trần Dần thật phong phú và đa dạng. Trước hết cách tân là chọn những góc nhìn mới, không đứng ở địa điểm, vị trí cũ.

Chuyển dịch vị trí để khám phá một cách nhìn mới, thấy được những góc cạnh mới, chính là một cách tân.

Ông thay đổi góc nhìn về tình yêu:

“Tình yêu/ không phẳng lặng bao giờ/ Nó đè sóng/ đè mưa/ nổi bão…/ Tình yêu/ không phải chuyện/ đưa cho nhau/ ngày một bó hoa/ Nó là chuyện/ những đêm ròng/ không ngủ/ tóc tai bù/ như những rặng cây to/ Nó vật vã/ những đêm trời động gió/ Tình yêu/ không phải là/ kề vai mơ/ sầu mộng dưới trăng mòn/ mà phải sống/ phải cởi trần/ mưa nắng/ phải mồ hôi/ chảy đẫm/ tận buồng gan./ Tình yêu không phải/ chuyện ngàn năm/ kề sát má/ mà bỗng dưng/ một quả tim chung/ phải bổ nó/ làm/ đôi/ người một nửa/ người/ ôm một nửa…/ Tình yêu/ không phải là/ những chiếc toa đen/ con tàu cuộc sống/ tuỳ chuyến đi/ mà cắt bỏ/ hoặc nối thêm/ Mà tự nó là/ Một ĐẦU TẦU HOẢ/ có nghìn toa/ buổi – sáng/ buổi – không đèn/ Triệu mã lực/ con tàu điên/ tàu dại/ nó đâm bừa/ gãy cẳng/ ngày đêm/ nó hú chết/ thời gian/ khoảng cách/ nó rú lên/ trên trái đất/ chưa người/ chưa xã hội/ chưa luân thường/ ước lệ…/ Tình yêu không phải/ chuyện bạ sao yêu/ cũng được/ nó lạ lùng/ như giữa một trời sao/ triệu triệu ánh/Chỉ có anh/ đã khản tiếng/ kêu gào/ mới gọi được/ vì – sao – em/ hay khóc/ Và có em/ đi mãi đến mê/ người/ mới dừng lại/ ôm mình anh/ buồn tủi/ vì – sao – anh/ rốc lửa/ xém bên trời…” (Tình yêu).

Thay đổi góc nhìn cũng là không chấp nhận việc đứng ở điểm nhìn của người khác, vì như thế là lặp lại, rập khuôn. Nghĩa là giết chết sáng tạo. Nghĩa là phi cách tân.

Viết về cuộc chiến tranh Việt – Pháp, đã từng có rất nhiều người (kể cả, tất nhiên, các cây bút văn công), nhưng Trần Dần không lặp lại, bắt chước. Ông khám phá con người trong chiến tranh từ góc nhìn của mình. Bài thơ Đi! Đây Việt Bắc là một cách nhìn chiến tranh. Nhìn từ vị trí những thường dân bền bỉ phụng sự Tổ quốc mình. Nhìn từ góc độ nhân văn: chớ có bạc lòng mà phụ ơn nhân dân:

Đây!/ Việt Bắc!/ Sông Lô/ nước xanh/ tròng trành mảnh nguyệt!/ Bình Ca/ sương xuống/ lạc/ con đò!/ Đáy dạ thời gian/ còn đọng/ những tên/ Như/ Nà Phạc/ Phủ Thông/ Đèo Thùng/ Khau Vác/ (…)/ Chính/ cái nôi Việt Bắc/ bế bồng ta/ Qua/ tất cả/ tháng năm đầy lửa/ (…)/ Ta bầu bạn/ củ khoai môn/ nương sắn/ Bạn/ con chim mất ngủ/ rừng già/ Bạn/ sông Đà/ sông Mã/ chở đầy sao/ (…)/ Ở đây/ ta mắc nợ/ núi rừng/ Một món nợ/ khó bề trang trả/ Việt Bắc/ cho ta vay/ địa thế!/ Vay từ/ bó củi/ nắm tên/ Vay từ/ những hang sâu/ núi hiểm/ Cả/ trám bùi/ măng đắng/ đã nuôi ta/ (…)/ Ta mắc nợ/ những rừng sim bát ngát/ Nợ/ bản Mường heo hút/ chiều sương/ Nợ/ củ khoai môn/ nợ chim muông/ nương rẫy/ Nợ/ tre vầu/ bưng bít/ rừng sâu/ Nợ/ con suối/ dù trong/ dù đục/ Nợ/ những người/ đã ngã/ không tên/ Ôi/ thế kỷ/ muôn quên/ ngàn nhớ!/ Nợ này/ đâu dễ trả/ mà quên!/ Đi!/ Tất cả!/ Dù quen tay vỗ nợ/ Cũng chớ bao giờ/ vỗ nợ/ NHÂN DÂN!”.

Cách tân là không còn bằng lòng với những diễn đạt cũ. Vì thế phải tìm những lối thể hiện mới. Không gì dễ mòn nhẵn như ngôn từ. Vậy phải thay đổi, làm mới. Trần Dần đã tìm những hình thức mới cho ngôn từ. Sự thử nghiệm này có người cho là lập dị (giống như sự lập dị của các nhà thơ siêu thực, các nghệ sĩ đa-đa (dadaisme) khẳng định ngôn ngữ bập bẹ của trẻ thơ không hề vô nghĩa, vì thế thơ là tiếng bập bẹ của con người trước một thế giới mới mẻ, như trẻ thơ đang khám phá thế giới và ngạc nhiên thốt lên những tiếng bập bẹ đầu đời).

Trần Dần trực cảm về số phận treo thập giá của đời mình và diễn tả bằng một hình thức mới đến khác thường, lập dị:

 

“hôm nay

tôi vẫn crucifix mỏm – AH

tôi sột soạt sóng ngắn

tôi zột zoạt mộng vắn
mộng dài

                        tam thiên thế giới”.

 

Bài thơ không dễ cắt nghĩa, nhưng vẫn đem lại một cảm nhận – dù bàng bạc – về một nỗi trơ trọi và bơ vơ trên thập giá số phận (Trần Dần dùng từ crucifix).

Và hành động cách tân căn bản nhất trong thơ Trần Dần là những suy tư và linh cảm về một thế giới luôn luôn mới, không ngừng mới – Hựu nhật tân (Phan Bội Châu). Một thế giới tràn đầy tự do và sức sống mới. Một thế giới cho con người được là mình, được trở nên chính mình. Trần Dần khát khao thế giới đó vì đã nhìn rõ một thế giới ủ dột đang vây bủa hiện thực. Ông viết trong Bài thơ Việt Bắc:

“Vì đâu?/ Con tàu cuộc sống/ bỏ neo/ lên bến nghỉ/ hàng năm?/ Có lẽ/ cuộc đời/  thấm mỏi!/ Phải sửa sang/ cái vỏ con tàu,/ đây đó/ ít nhiều/  hoen rỉ?”

Ông tự nhủ lòng – có lẽ cũng muốn chia sẻ với mọi người – hãy bước ra khỏi mọi ao tù giam hãm, ra khỏi nấm mồ chôn chính mình, để ra khơi, “bỏ sau lưng nghìn hải cảng”:

“Đi!/Dù biết/ khổ đau còn là luật/ của trái đất này/ khi/ nó chuyển mình đi!/ Hãy thù ghét/ mọi ao tù/ nơi thân ta rữa mục,/ mọi thói quen/ nếp nghĩ – mù lòa!/ Hãy sống như/ những con tàu/ phải lòng/ muôn hải lý,/ mỗi ngày/ bỏ/ sau lưng/ nghìn hải – cảng – mưa – buồn!”.

* * *

Những tìm tòi cách tân của Trần Dần dù không để lại nhiều ảnh hưởng và những thành quả vang dội cho đương thời và thế hệ hậu sinh, nhưng đã đủ cho một định nghĩa về cách tân nghệ thuật, hơn nữa, một ấn tượng về khát vọng cách tân rất thiết tha và bền bỉ.

Ngày nay, nhắc đến Trần Dần, đã thưa dần những bàn luận về vụ Nhân văn – Giai phẩm, nhưng bắt đầu nói đến bài thơ mini diễn tả nỗi khắc khoải về cuộc đời đang có nguy cơ mất dần khát khao sáng tạo – những bầu trời không có người bay, để vươn đến những chân trời mới, giã biệt những nẻo đường cũ:

 

Tôi khóc những

                chân trời

                         không

                                  người bay

Lại khóc 

              những người bay

                               không có

chân trời.

 

Niềm thiết tha của Trần Dần là một khắc khoải rất hiện thực.

Bởi trong hiện thực, đang mở ra những chân trời gọi mời, vậy mà vẫn còn thưa thớt những người bay.

Mùa Chay – Phục sinh 2011