Đến và ở lại cùng dân (Thơ lục bát đương đại) -khổng thành ngọc ’65

Cổ truyền trong đương đại

Cách nay chưa lâu, có dịp ra Hà Nội công tác dài ngày ở Bộ Giáo dục và Đào tạo, được làm quen anh em từ khắp ba miền tụ về. Bộ sắp xếp nơi làm việc ở tận Chí Linh, Hải Dương, gần đền thờ Nguyễn Trãi, nghĩa là trên mảnh đất đã từng xảy ra vụ án Lệ Chi viên dẫn đến cái chết thảm khốc và oan nghiệt của vị khai quốc công thần nhà Lê.

Nơi làm việc thật lý tưởng, yên tĩnh, tịch mịch, xa phố, xa chợ. Cũng thật thơ mộng, bên hồ Chí Linh, giữa rừng thông. Bởi thế, cứ buổi tối, lúc xong công việc ban ngày, lại hãm trà, ngồi hóng mát bên hồ. Cuộc trà dư tửu hậu ấy, chuyện đời, chuyện người, cả chuyện quốc sự không mời cũng tới.

Người bạn Hà Nội cao hứng đọc thơ. Có câu rằng: “Rồi thì tất cả chúng ta / Đều lên nóc tủ ngắm gà… khỏa thân”. Lên nóc tủ, nghĩa là ảnh chân dung được đưa lên nóc tủ cho vợ con tưởng nhớ, ý nói đã… từ trần. Gà khỏa thân là gà nguyên con, được làm sạch sẽ, luộc chín, được đặt trước di ảnh, ý nói được ngắm đồ cúng sau khi lên tủ thờ.

Thơ bỡn cợt mà nói chẳng hề sai sự thật ai cũng phải gặp: cái chết.

Lại một câu khác. Lần này anh bạn Nghệ An xướng: “Ghế thì ít, đít thì nhiều”, anh bạn Huế tiếp: “Cho nên đấu đá là điều tất nhiên”.

Ai đó buông lời bình: thơ đụng chạm rồi. Thế sự thì được, quốc sự thì lôi thôi đấy.

Cứ vậy, trào tuôn thơ đời, thơ người, thơ thời sự, thế sự, quốc sự…

Ngôn ngữ đời thường mà ngoa ngoắt. Hình ảnh không hoa mỹ, cầu kỳ mà chứa sức gợi nhiều lớp nhiều tầng.

Điều lạ, phần lớn thơ đọc chơi những buổi như thế đều có hình thức lục bát. Cái hình thức sáu – tám nghìn đời của dân gian giản dị, quen thuộc, vẫn được đời nay dùng. Và tất nhiên, vẫn dung dị mà đáo để, vẫn nhịp lục bát ổn định và giai điệu trầm bổng quen thuộc, vậy mà vẫn như lục bát thuở xưa của cha ông, nghĩa là cũng đầy những “đòn phép” quyền biến, bất ngờ, đem lại những hứng thú mỹ cảm và những thông điệp sâu xa. 

Lạ thay, hình thức lục bát cổ truyền vẫn điềm nhiên hiện diện giữa lúc diễn ra quá trình toàn cầu hóa, với đủ các khuynh hướng nghệ thuật, tác động đến người làm thơ, làm nẩy sinh ao ước tìm ra những kiểu cách tân thuộc đủ loại: hậu hiện đại, tân hậu – hiện đại, hiện thực huyền ảo, tân lãng mạn, hậu lãng mạn, với những hình thức tự do, văn xuôi hóa thi ca, tạo ngôn ngữ mới, bí hiểm… Không ít thi sĩ vẫn chọn lục bát làm hình thức diễn đạt cảm hứng nghệ thuật, nói lên những khắc khoải, thao thức tự đáy lòng.

Những vần thơ vừa dẫn trên đây là của Bảo Sinh, người Hà Nội, bước vào tuổi lục tuần mới làm thơ, nhưng đã kịp thấy mình tìm được không ít người thưởng thức, đồng điệu.

Nhưng Bảo Sinh mới chỉ là một trường hợp. Còn những Đồng Đức Bốn, người Hải Phòng, và trước đó, thời chiến tranh và hậu chiến, còn Bùi Giáng (Sài Gòn), Phạm Thiên Thư (Sài Gòn), Bút Tre (Vĩnh Phú), và nhất là, Nguyễn Duy (Thanh Hóa). Đó là những tên tuổi xuất hiện trong làng thơ, nối tiếp những bậc tài danh có công hiện đại hóa lục bát như Nguyễn Bính (thập niên 40 – 50 của thế kỷ trước), Tản Đà (những năm 30).

Những tên tuổi vừa nêu gợi nhớ đỉnh cao và thiên tài lục bát Nguyễn Du.

Tất cả, từ Nguyễn Du đến những nhà lục bát sau này, đều để lại một kinh nghiệm quý. Kinh nghiệm và bài học ghi tâm khắc cốt của người làm thơ: gắn với dân gian, cảm nhận linh hồn dân tộc bất diệt trong suy nghĩ, chọn lựa, cảm động, dấn thân… của dân chúng, rồi tinh luyện thành bản sắc cá nhân mà làm thơ: 

“Bao nhiêu là thứ bùa mê

Cũng không bằng được nhà quê của mình.

Câu thơ nấp ở sân đình

Nhuộm trăng trăng sáng, nhuộm tình tình đau”

(Đồng Đức Bốn – Bây giờ)

và:

“Trở về với mẹ ta thôi

Lỡ mai chết lại mồ côi dưới mồ”

(Đồng Đức Bốn – Trở về với mẹ ta thôi)

Trở về với mẹ, nói như Đồng Đức Bốn, bằng không chết lại mồ côi dưới mồ”. Về với mẹ, nghĩa là về với cội nguồn, xuất thân. Về với xuất xứ, nơi hình thành và sinh ra.

Dân gian, dân chúng, dân sinh chính là nơi sinh thành hết thảy mọi nghệ sĩ.

Có lẽ vì thế đã khiến nhà thơ Nguyễn Duy thấm thía. Thấm thía hồn dân gian mênh mông vô tận và sâu xa khôn cùng. Một đời nghệ sĩ nói bao lời cũng không cạn, diễn bao ý cũng không vơi. Về mẹ. Về nguồn cội:

“Ta đi trọn kiếp con người

Cũng không đi hết những lời mẹ ru”

(Nguyễn Duy – Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa)

Đọc thơ lục bát đương đại qua một số trường hợp tiêu biểu – Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn, Bảo Sinh – với mong muốn nhận ra trải nghiệm của người cầm bút đương thời: làm thế nào để nghệ thuật đến và ở lại cùng dân?

Sinh thành trong dân gian, gắn bó với con người

Không hẹn mà gặp, cả ba nhà thơ được nêu trong bài viết này đều tự trưng bày tông tích, cội rễ của thơ mình. Các ông đến từ đâu? Những gì làm nên thơ của các ông?

Trong bài Giấc mộng trắng, Nguyễn Duy bộc bạch thân thế, cội rễ sâu xa của người thơ và thơ:

Làng ta ở tận làng ta

Mấy năm một bận con xa về làng

Gốc cây hòn đá cũ càng

Trâu bò đủng đỉnh như ngàn năm nay

 

Cha ta cầm cuốc trên tay

Nhà ta xơ xác hơn ngày xa xưa

Lưng còng bạc nắng thâm mưa

Bụng nhăn lép kẹp như chưa có gì

 

Không răng… cha vẫn cười khì

Rượu tăm còn để dành khi con về

Ngọt ngào một chút nem quê

Cay tê cả lưỡi đắng tê cả lòng

Gian ngoài thông thống gian trong

Suốt đời làm lụng sao không có gì

Không răng… cha vẫn cười khì

Người còn là quý xá chi bạc vàng

 

Chiến tranh như trận cháy làng

Bà con ta trắng khăn tang trên đầu

Vẫn đồng cạn vẫn đồng sâu

Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa

 

Đường làng cây cỏ lưa thưa

Thanh bình từ ấy sao chưa có gì

Không răng… cha vẫn cuời khì

Giàu nghèo có số nghĩ chi cho buồn

 

Mẹ ta vo gạo thổi cơm

Ba ông táo sứt lửa rơm khói mù

Nhà bên xay lúa ù ù

Vẫn chày cối thậm thịch như thuở nào

 

Lũ em ta vác cuốc cào

Giục nhau bước thấp bước cao ra đồng

Mồ hôi đã chảy ròng ròng

Máu và nước mắt sao không có gì

 

Không răng… cha vẫn cười khì

Đời là rứa kể làm chi cho rầu

Cha con xa cách đã lâu

Mấy năm mới uống với nhau một lần…

 

Ruột ta thắt mặt ta nhăn

Cha ta thì cứ không răng cười cười

Ta đi mơ mộng trên trời

Để cha cuốc đất một đời chưa xong”.

Nguyễn Duy nói về xuất thân – quê quán và gia đình – mà lại đặt nhan đề Giấc mộng trắng. Đặt trong tâm thế muốn nói không gian sau lưng, bỗng dưng lại đối chiếu cõi còn ở phía trước, trong mơ, giấc mộng. Rồi thấy những mơ mộng đều là ảo tưởng. Tự thú ảo tưởng mà gợi lên nỗi thấm thía về xưa và nay của quê mình, nhà mình. Xưa nghèo đói nay vẫn lầm than. Xưa lầm lũi, nay cũng vậy. Cuộc sống không chút đổi thay. Nghèo vẫn hoàn nghèo: Gian ngoài thông thống gian trong / suốt đời làm lụng sao không có gì. Gia đình nhà thơ ngày xưa cơ cực, nay vẫn thế: Lũ em ta vác cuốc cào / giục nhau bước thấp bước cao ra đồng / mồ hôi đã chảy ròng ròng / máu và nước mắt sao không có gì.

Đồng Đức Bốn cũng có xuất thân không khác Nguyễn Duy là mấy. Cũng từ cảnh nhà nghèo khổ, lầm than. Đây thân thế của ông, con của một người mẹ nghèo, lam lũ:

Mẹ mua lông vịt chè chai

Trời trưa mưa nắng đôi vai lại gầy

Xóm quê còn lắm bùn lầy

Phố phường còn ít bóng cây che đường

Lời rao chìm giữa gió sương

Con nghe cách mấy thôi đường còn đau.

(Trích bài Trở về với mẹ ta thôi)

Mẹ của nhà thơ làm nghề mua lông vịt, chè chai (phía Nam gọi là ve chai. Ngoài Bắc, ở Hà Nội xưa có phố Hàng Chai, nơi mua phế phẩm đủ loại, trong đó có hộp thiếc đựng chè/trà – GK chú thích). Bàn chân bà đã biết đến bao nhiêu nẻo đường, lối ngả. Từ xóm quê đến phố phường. Nơi thì lầy bùn, nơi thì  “ít bóng cây che đường”,  nắng cháy da. Có lần nhà thơ chợt gặp mẹ. Mẹ đang khản giọng rao. Tiếng rao mua ve chai của mẹ, nhà thơ nghe được, sao mà đứt ruột: “Lời rao chìm giữa gió sương / Con nghe cách mấy thôi đường còn đau”.

Cũng tự phô bày cội rễ, Bảo Sinh lại có cách diễn đạt khác và hướng đến suy tư khác. Trừu tượng hơn, bóng gió và “triết lý” hơn, nhưng vẫn hướng độc giả vào không gian cưu mang cuộc đời nhà thơ:

Cho ta về chỗ gió mưa

Cho ta về chỗ có trưa có chiều

Về nơi có ghét có yêu

Nắng, mưa, yêu, ghét sớm chiều như ta

(Bài Như ta)

Không gian “nắng mưa, yêu ghét, sớm chiều” chính là cõi nhân gian, nơi diễn ra phận người, gồm đủ hỉ, nộ, ái, ố… Cách nói về xuất thân của Bảo Sinh tuy có khác, nhưng suy cho cùng, cũng gợi cho độc giả ý thức về cõi dương gian, cõi sống, như một lưu ý: tất cả đều bình đẳng trong thân phận làm người, đều “như ta” – nhan đề của bài thơ, nghĩa là hết thảy mọi người đều là chúng sinh, tham dự và thành phần tử của cộng đồng người.

Như vậy, dù trưng bày xuất thân cụ thể (Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn) hay, trừu tượng hơn, hướng đến không gian gắn với mọi con người – cõi người (Bảo Sinh), cả ba nhà thơ lục bát đương đại, từ trong ý thức sâu xa, đều thấy con người và nghệ thuật của mình gắn với thực tại nhân sinh. Một sự gắn bó bền chặt đến độ không thể tách rời. Đời mình không thể xa lìa cội nguồn và không gian hiện hữu. Nghệ thuật cũng thế thôi, không thể chối bỏ nguồn cội nhân sinh sinh ra nghệ thuật.

Một Nguyễn Duy không thể lìa xa chốn quê nghèo lam lũ. Một Đồng Đức Bốn không thể quên bóng hình những người thân thương nơi quê nhà. Một Bảo Sinh luôn ý thức và ngẫm suy về cõi người ta, nơi ông biết mình đã được “Tạo hóa tạo ta chơi” (bài Như như). Những dòng lục bát của các thi sĩ đương thời dường như muốn truyền đi một thông điệp cho những ai đó muốn cách tân hoặc cách mạng thi ca: tiếng nói nghệ thuật cần được khởi đi và phải liên hệ với người mình, nhà mình, quê mình, và rộng hơn, cõi sống của mình.

Liên hệ với không gian, cõi sống của mình, nghĩa là gần gũi con người, gắn bó với đại chúng, dân chúng. Đến đây, có thể phát sinh ngộ nhận. Bởi, trong lịch sử chưa xa, có khối người tự xưng mình xuất phát từ nhân dân, sống chết cho dân, vì dân, nhưng kỳ thực, họ sống, suy nghĩ, kể cả viết lách (tự xưng làm nghệ thuật) không thấy chút liên hệ thực sự đến con người.

Nhà thơ Nguyễn Duy tự dặn mình:

“Lẫn trong thập loại chúng sinh

Người như thế mới tài tình làm sao”

và:

“Những mong có ích cho người

Dẫu làm thân cỏ, dập vùi sá chi”

Hóa ra, lời tự dặn mình của Nguyễn Duy đã thành một “tiêu chí” xác định làm thế nào sống (và làm thơ) thực sự gần dân, gắn với con người. Phải “Lẫn trong thập loại chúng sinh”. Phải “Mong có ích cho người” và sẵn sàng chịu “dập vùi”.

Nghĩa là tự hủy để lẫn vào con người, hòa mình trong “thập loại chúng sinh”.

Tương tự Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn thấy mình mắc nợ con người và cuộc sống. Nhận ra món nợ này, là tự nhận mình có nợ, và đồng thời, có trách nhiệm phải trả nợ. Một năm trước khi mất (ông qua đời vào năm 2006), nhà thơ viết bài Tôi không thể chết được đâu:

Tôi không thể chết được đâu.

Bởi tôi còn khúc sông sâu nợ đò

Cánh đồng đang lúc mưa to

Tôi còn nợ những cánh cò phiêu du

Tôi còn nợ cả mùa thu

Cỏ xanh như tiếng hát ru ở đời

Tôi còn nợ cả mặt trời

Vàng tươi mấy sợi tơ người chưa hong

Tôi còn nợ những người mong

Bài thơ lục bát viết trong cõi buồn

Tôi còn uống nước nhớ nguồn

Trời còn cho chỉ để luồn vào kim

Bởi là thi sĩ, biết mình mắc nợ con người, thì liệu cách trả bằng thơ. Nợ dân tộc, thì trả bằng “Bài thơ lục bát viết trong cõi buồn” (Đồng Đức Bốn, bđd).

Chọn hình thức nghệ thuật lục bát, phải chăng các nhà thơ lục bát hiện đại đang thực hiện nghĩa vụ trả món nợ dân tộc, và đồng thời qua đó, cũng đền nợ con người.

Nhưng trả món nợ cho con người thì không dễ, bởi món nợ vô hình, không định lượng này vốn khó khăn và rất nghiệt ngã. Trả làm sao cho chủ nợ – con người phải xiêu lòng, mời thơ ở lại và bồi bổ sức sống tinh thần, tình cảm cho con người.

Ở lại với con người

Làm thơ, Nguyễn Duy dặn với lòng mình:

“Cứ là rượu của chúng sinh

Cho ai nhắm nháp cho mình say sưa

Cứ như hoa cỏ bốn mùa

Giọt sương giọt nắng giọt mưa vơi đầy

Dặn lòng như vậy, nhưng thực hiện được hay không lại còn phải chờ. Làm rượu phục vụ chúng sinh, và làm Giọt sương giọt nắng giọt mưa vơi đầy cho hoa cỏ bốn mùa quả thật không dễ chút nào.

Nhất là, thời nay, khi hình thức lục bát đã thành xưa cũ, xem chừng không còn hợp khẩu vị của con người thời buổi @ hiện đại, tân kỳ.

Quả là một thách đố không nhỏ đối với những thi sĩ tự nhận mình mắc nợ dân tộc và con người. Bởi, sau lưng các nhà lục bát hiện đại, có cả di sản đồ sộ của lục bát ca dao, của Nguyễn Du, Tản Đà, Nguyễn Bính và biết bao tác giả vô danh mà sáng tác vẫn lưu truyền trong dân gian. Hơn nữa lại còn cuộc “đọ sức” với thơ hiện đại mà sự phá bỏ mọi hình thức niêm luật dường như đang chiếm thế thượng phong, giải phóng các cây bút cách tân, mặc sức phô diễn suy tư và cảm xúc, hấp dẫn người đọc đương đại.

Trở lại đôi chút với di sản lục bát.

Bằng phương thức diễn đạt đặc sắc của mình – thể phú, thể tỉ, thể hứng – lục bát ca dao đã tóm thâu các phương thức thể hiện của văn chương: miêu tả, tự sự, trữ tình, để qua đó ngẫm ngợi, suy tư triết lý về thời sự, thế sự, quốc sự, và tất nhiên, tâm sự con người.

Ca dao than thân:

Thân em như hạt mưa rào

Hạt rơi xuống giếng hạt vào vườn hoa

Thân em như hạt mưa sa

Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày.

Bài ca dao ngắn mà chứa đầy tâm sự về thân phận bấp bênh, vô định của người phụ nữ. Ẩn sâu bên dưới là ngẫm suy về tình cảnh chịu sự lệ thuộc của hoàn cảnh, số phận.

Ca dao trữ tình:

Ở gần mà chẳng sang chơi

Để em ngắt ngọn mùng tơi bắc cầu

Mùng tơi chẳng bắc được đâu

Em cởi dải yếm bắc cầu anh sang.

hoặc:

Đêm qua ra đứng bờ ao,

Trông cá cá lặn, trông sao sao mờ.

Buồn trông con nhện giăng tơ

Nhện ơi, nhện hỡi nhện chờ mối ai?

Buồn trông chênh chếch sao Mai

Sao ơi, sao hỡi nhớ ai sao mờ?

Những dòng trữ tình dân gian diễn tả tinh tế thế giới tâm hồn người xưa, những cung bậc tâm trạng của người đang yêu bằng ngôn từ rất giản dị. Tác giả dân gian phải hiểu và gắn bó với con người, phải trải nghiệm đời sống sâu sắc mới sáng tạo những hình ảnh ý nhị và đầy sức gợi như thế.

Tất nhiên lục bát xưa không chỉ gồm toàn rung động và ngẫm nghĩ về thân phận và những cung bậc tình cảm con người, mà còn tham gia vào nhiều khía cạnh của đời sống xã hội, nhất là trở thành tiếng nói phản kháng, tố cáo tình trạng bất công và đè nén:

Cá sông kho với lá gừng,

Bà con mình đó, xin đừng quên nhau

Càng ngày sưu nặng thuế cao,

Mất mùa nên phải lao đao, nhọc nhằn.

Xóm làng nhẫn chịu cắn răng,

Bán đìa nộp thuế cho bằng lòng quan.

Quan trên ơi hỡi quan trên,

Hiếp dân, ăn chặn, chỉ biết tiền mà thôi!

Như vậy, lục bát dân gian đã sinh thành trong đời sống con người xa xưa. Sinh thành rồi gắn bó. Gắn bó và ở lại với mọi niềm vui, nỗi buồn, những âu lo khắc khoải cùng những hy vọng, ước mơ của con người và cộng đồng dân tộc. Đó là lộ trình của sự bất tử.

Thơ Nguyễn Du và những nhà lục bát cận đại (như Tản Đà) và hiện đại (như Nguyễn Bính, Bùi Giáng) cũng đã bước đi trên lộ trình đó. Có người đã trở nên bất tử, như Nguyễn Du. Có người đang trụ dần với thời gian, như Tản Đà, Nguyễn Bính, Bùi Giáng.

Tất nhiên những nhà lục bát đương đại chưa hề dám mơ ước đạt đến sự bất tử, nhưng rõ ràng, nhiều người đã chọn con đường nghệ thuật hướng đến những thực tại muôn thuở, là đời sống vô danh, “chúng sinh” (Nguyễn Duy), là “cõi buồn” (Đồng Đức Bốn), “chỗ gió mưa” (Bảo Sinh).

Nhưng chọn mới chỉ là bước thứ nhất, là ý thức, còn phải thực hiện sự chọn lựa và ý thức này. Thực hiện sao cho không lặp lại người đi trước. Bởi trong nghệ thuật, tối kị sự lặp lại, càng dứt khoát không chấp nhận bắt chước.

Vậy, phải làm ra cái mới, phải sáng tạo. Nhưng sự sáng tạo, cái mới phải được công chúng đón nhận. Cái mới, dù mang đậm dấu ấn cá nhân của cái tôi người nghệ sĩ, cũng khơi lên cho công chúng những cảm xúc và suy tư về mình, về đời, phải ở lại được với đời sống, nghĩa là tiếp tục sinh sôi trong đời sống, tiếp tục bật lên những tia sáng rọi vào những chiều kích đa dạng của thực tại nhân sinh, hữu hình và cả vô hình, những gì đã là hiện thực và cả những dự cảm về những gì sẽ đến.

Nhiều người làm thơ đương đại tìm đến những hình thức tân kì để diễn tả những tâm thức của người đương thời, cũng là điều dễ hiểu và dễ dàng. Bởi, thời mới thì cách nói mới, nội dung mới thì hình thức phải được đổi mới. Còn các thi sĩ chọn hình thức xưa để nói cái mới. Chữ nghĩa, lối diễn đạt tưởng xưa cũ, lại vẫn đường hoàng rọi vào hiện thực đương thời những ánh quang mới, thể hiện những xúc cảm và suy tư của con người đương đại. Thế mới khó.

Một Đồng Đức Bốn khiến độc giả phải không chỉ nao lòng trước bức tranh đồng nội thân thương, mà còn bâng khuâng, với rất nhiều ân hận, về một mất mát vô hình, sự “thành tro” của những buổi hoàng hôn:

Chăn trâu đốt lửa trên đồng

Rạ rơm thì ít, gió đông thì nhiều

Mải mê đuổi một con diều

Củ khoai nướng để cả chiều thành tro”

(Chăn Trâu Đốt Lửa)

Cái mới không chỉ ở xây dựng hình ảnh, mà chủ yếu là những phát hiện, suy tư mới trên nền hiện thực bao đời nay của chốn đồng nội cũ xưa. Bài thơ Chăn trâu đốt lửa được triển khai bằng phương thức thể phú của ca dao, nhưng vượt lên trên phép kể chuyện, đã gợi lên những xúc cảm và ngẫm suy về việc “mải mê đuổi một con diều” (cũng như theo đuổi mọi chuyện viển vông khác), khiến “cả chiều thành tro” (cũng như đã/ sẽ thành tro mọi điều viển vông).

Một Nguyễn Duy, qua bài Giấc mộng trắng vừa dẫn trên đây, hoặc bài Mỗi:

Em đi bỏ lửng cánh đồng

xơ gan hột lúa nát lòng củ khoai

Rạ rơm bạc phếch tóc dài

hai mà một một mà hai một mình

***

Em đi bỏ lửng sân đình

trống chèo ngắc ngoải thùng thình gọi ai

Chòng chành kiếp nón không quai

hai mà một một mà hai một mình

***

Em đi bỏ lửng dòng sông

biệt tăm con cá lông nhông thuyền chài

Gió lêu lổng sóng dông dài

hai mà một một mà hai một mình

***

Em đi bỏ lửng trúc xinh

thầy đồ cóc dạy yêu tinh học bài

Nằm nghe ếch nhái thi tài

hai mà một một mà hai một mình

***

Em đi bỏ lửng chân trời

một người chiều ngóng một người ban mai

Hình là ta bóng là ai

hai mà một một mà hai một mình

***

Em đi bỏ lửng cái tình

tâm toang hoác rỗng rối tinh hình hài

Ruột rêu mọt gặm lai rai

hai mà một một mà hai một mình

Nguyễn Duy, cũng như Đồng Đức Bốn, đều băn khoăn về còn và mất, thật và ảo, nhưng có lẽ Nguyễn Duy còn muốn tiến sâu vào trực giác về bản thể của hiện hữu. Điệp khúc hai mà một một mà hai một mình như xác tín về tính thống nhất, bất khả phân ly của sự sống. Sự sống của quê hương với cánh đồng- hột lúa – củ khoai, với sân đình và trống chèo, với dòng sông – con cá – thuyền chài… Sự sống con người với cái tình, cái tâm và hình hài. Sự sống đang bị chia cắt: Em đi bỏ lửng cánh đồng/ Xơ gan hột lúa nát lòng củ khoai… Em đi bỏ lửng sân đình/ trống chèo ngắc ngoải thùng thình gọi ai… Vì thế, bi kịch sẽ là “tâm toang hoác rỗng rối tinh hình hài”.

Băn khoăn của Nguyễn Duy không chỉ dừng lại ở sự trần tình về thực trạng đời sống đang diễn ra cuộc biến động, đổi thay tận gốc rễ, mà còn là lời báo động về tình cảnh sự sống bị hủy hoại, tính thống nhất vững bền của sự sống bị đe dọa. Vì thế điệp khúc về sự sống hai mà một một mà hai một mình nghe ai oán và đoạn trường.

Lục bát của Bảo Sinh mới thật khác lạ.

Lục bát của nhà thơ này phần nhiều gồm hai câu:

Khi yêu cái xích dưới chân

Thì xiềng xích ấy là thần Tự do!

Tự trói thì gọi là tu

Bị trói thì gọi là tù mọt gông!

Tự do sướng nhất trên đời

Tự lừa lại sướng hơn mười tự do!

Kể cả những bài lục bát dài hơn hai câu, cũng vẫn có thể ngắt và dừng lại ở hai câu:

Khi mê bùn chỉ là bùn

Ngộ ra mới biết trong bùn có sen

Khi mê tiền chỉ là tiền

Ngộ ra mới biết trong tiền có tâm…

Có người nói đọc Bảo Sinh cứ thấy phảng phất Bút Tre. Nhưng Bút Tre rõ ràng là trào phúng, khôi hài, dừng lại ở tiếng cười đùa nghịch. Còn Bảo Sinh, cũng khôi hài nhưng nghiêm trang hơn, vì lý sự hơn và hướng vào suy nghĩ, phản tỉnh.

Thơ lục bát Bảo Sinh như nhắc người đọc đừng dễ dãi với cái nhìn một chiều, phiến diện và những suy nghĩ, nhận định đã thành khuôn phép, lề thói. Bảo Sinh đề nghị chuyển dịch điểm nhìn, thay đổi cách nghĩ:

Muốn bịt hết miệng trần ai

Hãy bịt ngay chỗ cái tai của mình

(Bịt tai)

Người ghi bia đá để đời

Còn ta bia trắng để người tự ghi

(Vô đề 3)

Muốn đừng để đời chửi ta

Thì đừng cố bắt người ta khen mình

(Vô đề 6)

Vô cớ mua dây buộc mình

Thì đành nhờ cái vô tình gỡ ra

Tự nhiên buồn đến với ta

Tự nhiên buồn sẽ đi ra khỏi mình

(Vô cớ)

Trăng qua cửa sổ trăng vuông


Gió dẹt mình xuống để luồn mái tranh

Con người muốn lọt vào danh

Thì mình phải tự ép thành cái tên.

(Danh)

Đừng trách đời làm khổ ta

Ta làm khổ họ gấp ba bốn lần

Nên khi nhắm mắt lìa trần

Chỉ xin được nói một lần: Cảm ơn!

(Cảm ơn)

Đôi ta trên một con đò

Vạch thuyền đánh dấu ai ngờ sông trôi

Hẹn lời thề giữ lấy lời

Biết đâu lời của mỗi người là sông

(Lời sống)

Phải đi đến tận biển xa

Mới thấy cái đẹp ao nhà của ta

Phải đi lễ chùa đủ xa

Mới thấy được bụt chùa nhà rất thiêng

(Bụt nhà)

Bọ ngựa rình bắt ve sầu

Biết đâu chim sẻ đằng sau bắt mình

Mải tìm danh lợi, gái xinh

Biết đâu cái họa đang rình bắt ta

(Phía trước)

Chuyển dịch điểm nhìn và thay đổi cách nghĩ là nét đặc sắc trong thơ Bảo Sinh.

Nhà thơ mong ước sự đổi thay cần phát khởi từ đôi mắt nhìn cuộc sống, không tự mãn với những lối nghĩ đã thành nếp. Do đó, đọc thơ Bảo Sinh, chợt thấy phải tự xét mình, bước ra khỏi không gian cố cựu của nhận thức, suy tưởng. Nghĩa là, phải đặt lại vấn đề. Phải xét lại.

Tuy không phải Bảo Sinh đã thành công trong tất cả những bài lục bát của ông – một số bài với tứ thơ và diễn đạt còn khá dễ dãi – nhưng thơ Bảo Sinh đã đến với công chúng và được loan truyền chủ yếu bằng con đường truyền khẩu (như câu chuyện đầu bài viết), chứng tỏ người đọc thơ chấp nhận những dòng thơ lục bát của người đất Hà thành này, nhưng có lẽ đáng nói hơn, tán thành đề nghị của ông: hãy thay đổi cách nhìn và nhận thức.

* * *

Như vậy, cả ba trường hợp được nêu trong bài viết này – Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn, Bảo Sinh – đều cho thấy họ là những người viết với ý thức và thực sự đã sống “lẫn vào chúng sinh” (chữ của Nguyễn Duy): “Cứ chìm nổi với đám đông / riêng ta xác định ta không là gì”. Đồng thời họ khao khát được ở lại cùng “chúng sinh” trong cõi đời này. Ở lại bằng thơ. Ở lại bằng những chia sẻ với nhân gian qua thi ca.

Ba nhà thơ được nêu đều mang những mối bận tâm về đời sống và muốn được thành tâm sẻ chia với con người.

Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn ưu tư về chốn quê, và rộng hơn là chốn mọi người đang dự phần làm nên cuộc sống. Đó là một cõi sự sống đang bị phân ly, chia cắt. Bảo Sinh nhức nhối trước thực trạng cuộc sống như dừng lại bởi sức ỳ của nếp nghĩ và cách nhìn đã cũ mòn, héo úa.

Những nỗi buồn và lo âu của các thi sĩ đương đại, được diễn tả với ngôn từ và hình thức lục bát “chân quê” (chữ của Nguyễn Bính), khiến những thao thức, nỗi niềm của họ đang đi vào dân, và xem chừng, đang ở lại cùng dân.

Bởi những tâm tình gắn với dân, với nuớc non, con người, sẽ theo năm tháng trụ lại trong đời. Đúng như Nguyễn Duy đã viết:

“Bao triều vua phế đi rồi

người yêu nước chẳng mất ngôi bao giờ”

Có lẽ đúng vậy.

Đang có những dòng thơ đến trong cõi đời và ở lại cùng con người. Đến bằng tình yêu. Và ở lại nhờ tình yêu.■