Với chiến tranh ở Ukraine, bối cảnh tôn giáo toàn cầu sẽ thay đổi -John L. Allen

Để bắt đầu, có ít nhất ba khía cạnh tôn giáo rõ ràng đối với cuộc xung đột này mà cho đến nay, phần lớn đã bị bỏ qua trong hầu hết các phân tích.

Thứ nhất, chiến tranh có thể ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa các Giáo Hội Chính thống giáo trên thế giới.
Có gần 300 triệu Kitô hữu Chính thống giáo trên thế giới, được chia thành 16 Giáo Hội tự trị và nhiều chi nhánh khác, với khoảng 100 triệu ở Nga và 40 triệu ở Ukraine. Giáo Hội Chính thống Nga coi Ukraine là cái nôi của đức tin và là “lãnh thổ giáo luật”, nhưng trên thực tế, các tín đồ Chính thống giáo ở Ukraine được chia thành hai Giáo Hội riêng biệt, chỉ có một Giáo Hội phụ thuộc trực tiếp vào Mạc Tư Khoa.
Do đó, một tác động của cuộc chiến có thể là tạo ra một ý thức mới về mục tiêu chung giữa Chính thống giáo ở Ukraine, làm suy yếu vị thế của Mạc Tư Khoa và tạo ra một quan điểm mới mạnh mẽ trong thế giới Chính thống giáo. Vào đầu cuộc chiến, chi nhánh Mạc Tư Khoa của Giáo Hội Chính thống giáo ở Ukraine đã đưa ra những tuyên bố mạnh mẽ lên án cuộc xâm lược, mặc dù nội dung đó đã nhanh chóng bị xóa khỏi trang web của họ.
Ngoài ra, trong một thời gian đã diễn ra một cuộc tranh giành quyền lãnh đạo trong thế giới Chính thống giáo giữa Mạc Tư Khoa và Tòa Thượng phụ Constantinople, do Đức Thượng Phụ Đại Kết Bácthôlômêô lãnh đạo. Nói chung, Constantinople được coi là điểm tham chiếu tiến bộ và thân phương Tây hơn – Đức Thượng Phụ Bácthôlômêô, chẳng hạn, là một nhân vật đại kết, người đã tham gia vào nhiều mối quan hệ hợp tác với Đức Thánh Cha Phanxicô – trong khi Mạc Tư Khoa được coi là bảo thủ và đối đầu hơn.
Nhìn chung, Constantinople được xem là có ưu thế hơn, bắt nguồn từ quan niệm truyền thống coi Constantinople là “tòa đầu tiên trong số các tòa bình đẳng” trong truyền thống Chính thống. Tuy nhiên, Mạc Tư Khoa có số lượng tín hữu đông hơn, có nhiều tiền hơn và có sự hậu thuẫn của nhà nước Nga.
Nếu các tín hữu Chính thống giáo trên khắp thế giới phản đối người Nga, một tác động hiển nhiên là củng cố ưu thế của Constantinople.
Nhà sử học tôn giáo Diana Butler Bass nói như thế này:
Cô viết: “Xung đột ở Ukraine là về tôn giáo và loại Chính thống giáo nào sẽ định hình Đông Âu và các cộng đồng Chính thống giáo khác trên thế giới (đặc biệt là ở Phi Châu). Đây là một cuộc thập tự chinh, chiếm lại Thánh địa của Chính thống giáo Nga và đánh bại những kẻ dị giáo phương Tây hóa, những người không chịu khuất phục trước quyền lực tinh thần của Mạc Tư Khoa.”
“Nếu bạn không nắm được điều này, bạn sẽ không hiểu được gì cả. Ai sẽ kiểm soát ngôi nhà địa lý, ‘Jerusalem,’ của Giáo Hội Nga? Mạc Tư Khoa? Hay Constantinople? Và, việc tuyên bố lãnh thổ đó có ý nghĩa gì đối với Chính thống giáo trên toàn thế giới? Liệu Chính thống giáo toàn cầu sẽ hướng tới một tương lai rộng mở và đa nguyên hơn, hay nó sẽ là một phần của bộ ba độc tài tân Kitô?”

Thứ hai, cuộc chiến ở Ukraine cũng có thể gây ra những hậu quả quan trọng đối với quan hệ Công Giáo-Chính thống giáo, đặc biệt là vì nó liên quan đến số phận của Giáo Hội Công Giáo Đông phương ở Ukraine, là Giáo Hội lớn nhất trong số 23 Giáo Hội Đông phương trên thế giới hiệp thông với Rôma.
Người Công Giáo Đông Phương ở Ukraine từ lâu đã đóng một vai trò to lớn trong các vấn đề quốc gia, sản sinh ra nhiều thế hệ học giả và nhà hoạt động hướng tới mục tiêu là một cộng đồng Kitô giáo thống nhất và độc lập trong nước. Người Công Giáo Đông Phương nói chung rất thân phương Tây và chống lại Mạc Tư Khoa, đóng vai trò quan trọng trong các cuộc nổi dậy ủng hộ độc lập khác nhau của Ukraine, và chính vì lý do này mà có thể gặp rủi ro lớn khi cuộc tấn công của Nga tiếp tục diễn ra.
Từ thời Thánh Giáo Hoàng Phaolô Đệ Lục, chính sách tổng quát của Vatican đối với Chính thống giáo Nga là giảm bớt căng thẳng, thực hiện mọi nỗ lực để tránh đối đầu. Cách tiếp cận găng tay mềm này đã được củng cố dưới thời Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II và ước mơ ấp ủ từ lâu của ngài về một Kitô giáo “thở bằng cả hai phổi”, cả Đông và Tây. Đức Giáo Hoàng Ba Lan là một đối thủ không mệt mỏi đối với chủ nghĩa Cộng sản và đã góp phần kích hoạt sự sụp đổ của đế chế Liên Xô, nhưng ngài có xu hướng nhún nhường và khôn khéo khi nói đến Chính thống giáo Nga.
Tất cả những điều đó đã gây thất vọng cho nhiều người Công Giáo trong Chiến tranh Lạnh, và vẫn còn cho đến ngày nay, bởi Đức Thánh Cha Phanxicô vẫn chưa công khai chỉ đích danh Nga là kẻ xâm lược, cũng như không lên án đích danh Putin về những hành động của y như nhiều nhà lãnh đạo toàn cầu khác đã làm.
Xung đột hiện tại có thể có khả năng thay đổi phép tính đó. Đành rằng, cuộc viếng thăm gần như chưa từng có vào thứ Sáu tại Đại sứ quán Nga tại Tòa Thánh không kèm theo bất kỳ lời chỉ trích công khai nào đối với Mạc Tư Khoa, nhưng chúng ta hãy đối mặt với điều đó – một giáo hoàng không đi thẳng xuống Via della Conciliazione đến đại sứ quán nước ngoài vì ngài đang thấy vui.
Có lẽ hậu quả từ chiến tranh sẽ định hình nên một hình thái đại kết mới của Vatican, một hình thái mạnh mẽ hơn một chút về khả năng đẩy lùi.

Thứ ba, cuộc khủng hoảng hiện tại cũng có thể tác động đến các cộng đồng Công Giáo và Kitô giáo bảo thủ ở phương Tây, những người đã coi Putin là đồng minh trong cuộc đấu tranh chống lại chủ nghĩa cực đoan Hồi giáo, đặc biệt là về mặt bảo vệ các Kitô hữu bị đàn áp ở Trung Đông, và ủng hộ việc thúc đẩy các giá trị truyền thống của Kitô giáo như một bức tường thành chống lại chủ nghĩa thế tục.
Nếu một số người Công Giáo và Kitô giáo bảo thủ phản đối Putin, điều đó có thể kích hoạt nhiệm vụ tìm kiếm những cách khác để nâng cao mục tiêu của họ.
Nhân tiện, cũng cần lưu ý rằng việc Putin giả vờ là một Người bảo vệ đức tin vĩ đại trên toàn cầu không hoàn toàn là điều đáng xấu hổ. Vào những thời điểm quan trọng ở Trung Đông, Putin đã sử dụng sức mạnh của Nga theo những cách thực sự mang lại lợi ích cho các tín hữu Kitô, đặc biệt là trong cuộc chiến chống bọn khủng bố Hồi Giáo IS ở Syria và Iraq.
Theo quy luật về những hậu quả không mong muốn, một Putin suy yếu và mất tập trung có thể khiến các tín hữu Kitô đó gặp nguy hiểm lớn hơn, một khả năng mà các nhà lãnh đạo phương Tây có tư duy tương lai sẽ lường trước được, bởi vì nếu không, Putin sẽ tự do tuyên truyền về sự thất bại của họ.
Tóm lại: Ở phía bên kia của cuộc chiến, bối cảnh tôn giáo toàn cầu đã được định sẵn để trông khác đi. Tuy nhiên, những khác biệt đó sẽ như thế nào sẽ được quyết định bởi những lựa chọn mà các nhà lãnh đạo tôn giáo đưa ra ngay bây giờ.