BÓ HOA THIÊNG LIÊNG – hà mạnh nguyên ’62

            Năm Thánh linh mục đã qua đi. Còn lại trong tôi những gì? – Bức chân dung cha sở họ Ars với đèn nến bao quanh đặt trên cung thánh? – Bài kinh cầu cho các linh mục đọc sau thánh lễ ngày Chúa nhật? Nếu chỉ chừng đó thôi thì biết nói thế nào đây với một người đã mấy mươi năm trong đạo Chúa? Một năm cầu nguyện cách riêng. Biết bao nhiêu lời kinh chân thành giáo dân dành cho các chủ chăn của mình. Và đã có bao nhiêu “chuyển biến tích cực”, bao nhiêu thay đổi quyết liệt hoặc đang hình thành trong hàng giáo phẩm? Kết thúc năm thánh nhiều giáo phận tổ chức ngày “Hội ngộ linh mục” thật trọng thể, tốt đẹp. Rồi sau đó ai về nhà thờ nấy. Rồi sau đó giáo xứ  nào cũng lại vẫn như thế, như nhiều năm trước Năm linh mục. Năm Thánh Truyền giáo cũng qua đi từ lâu (2003) cùng với nhiều băng rôn, khẩu hiệu treo hầu hết các nhà thờ…Nay nhìn lại, tác giả Trần Kim Ngọc, OP. trong bài “Thử nhìn lại việc truyền giáo tại Việt nam” trên báo CGvDT số 1775, vẫn chưa hết băn khoăn:  “Trong suốt Năm Thánh này, lửa truyền giáo đã được đốt lên. Lửa đó đã kịp cháy chưa? Lửa đó có cháy lên trong trái tim của mỗi người tín hữu không? Hay chỉ cháy lên nơi những khẩu hiệu? Xong rồi tắt ngúm mất tiêu.”  Nhiều đợt sinh hoạt tôn giáo (tĩnh tâm, học tập Lời Chúa, Thư chung, các cuộc lễ lớn…) thường được tổ chức thật qui mô, hoành tráng rồi cũng đều lặng lẽ trôi qua, khép lại cùng với các nghi thức bế mạc cũng thật hoành tráng, qui mô mà không theo người tín hữu vào cuộc sống đời thường. Vẫn biết hoa trái, ơn ích thiêng liêng thường rất khó nhận ra, không dễ tổng kết, đo đếm. Thế nhưng người tín hữu chúng tôi dù với con  mắt đức tin “còn nhiều hạn chế” lại mù mờ về thần học, tín lý nhưng có nhiều việc, nhiều lúc vẫn “cảm thấy” Chúa Thánh thần đã “đáp” xuống đâu, chưa “đáp” xuống đâu.

               47 năm trước tôi cùng giáo hội dành trọn một năm để cầu nguyện cho Công đồng chung Vatican II được thành công tốt đẹp. Công đồng đã thổi vào các giáo hội bên Tây âu những cơn bão táp đổi mới, canh tân rất kịch liệt, dữ dội. Còn với giáo hội Việt Nam, theo tôi- một giáo hữu bình thường của số đông- công đồng hình như mới đem lại một làn gió hiu hiu, nhè nhè với một số thay đổi bề ngoài như làm lễ quay xuống bằng tiếng Việt, giảm thiểu nhiều nghi thức rườm rà…Vậy mà làn gió nhè nhẹ kia đến nay vẫn chưa thổi đến nhiều nơi trong giáo hội của tôi, những nơi mà cách nghĩ, cách biểu hiện niềm tin, lối sống đạo của hàng giáo sĩ, giáo dân không khác gì những thập niên trước Công đồng. Nội dung Công đồng được dịch ra tiếng Việt, in thành sách dày mấy trăm trang nhưng đã có mấy trang hoá thân, thấm vào đời sống giáo hội, giáo dân?

             Vì đâu chúng ta chưa thoát khỏi tình trạng trên? Có thể do từ hai phía: Với tâm lý bậc làm cha mẹ, các vị bản quyền đều muốn lập những “khu an toàn” để con cái an toàn giữ đạo và mình cũng được an toàn. Những bài học giáo lý, đức tin được truyền dạy hàng trăm năm trước, các tổ chức đạo đức, lễ nghi, rước sách linh đình, rồi kinh kệ, lễ hội hành hương mà phần hội nhiều hơn lễ, đạo Chúa đậm màu tín ngưỡng làng xã dân gian… Tất cả đã bao bọc, che chắn nhiều thế hệ giáo dân khỏi mọi“sự thế gian chốn khách đày” và đưa đến một cảm giác an tâm, hài lòng. Đạo – đời cũng được phân định rõ ràng…

             Phần giáo dân, suốt cuộc đời việc giữ đạo được bao cấp nên một số đông đã như bầy cừu mê man gặm cỏ dưới bóng những ngôi thánh đường nguy nga, sầm uất, trong điệu du dương của những bài ca thánh, những bài giảng trau chuốt, đầy kỹ năng nhưng không truyền được “lửa” Tin mừng. Đạo được tổ chức theo “cung cách đoàn lũ bởi những mục tử biến chất trở thành các nhà quản trị, chuyên gia phụng vụ…”, trong đó “nhiều chức sắc vẫn đặt người tín hữu vào vị thế như những giáo dân thời Trung cổ” (Những căn bệnh trầm kha trong đời sống đức tin công giáo tại Việt Nam , lm. Nguyễn Trọng Viễn, OP).

               Đã qua thế kỷ 21, văn minh, tiến bộ cả đời lẫn đạo…Nhưng ở một giáo xứ miền Bắc, sáng hôm ấy, cha giáo sư Đại chủng viện từ trong Nam ghé thăm học trò cũ hiện là chính xứ. Hai thầy trò ngồi chờ điểm tâm. Lát sau ông bõ nhà xứ (lớn hơn cha xứ cả chục tuổi) bước vào, cha xứ quát: quỳ xuống. Ông bõ vội vàng quỳ gối trước sự kinh ngạc của cha giáo. Sau đó ông cha trẻ giải thích: vì nó đi mua quà sáng về trễ 15 phút! Chuyện sau đây xảy ra ở miền Trung do chính các đương sự kể. Để kiểm tra sự “đồng trinh sạch sẽ” của các thiếu nữ trước khi học khoá giáo lý hôn nhân, cha xứ bắt các em phải nhảy dây trước mặt ông 10 lần! Có em đã bị hư thai vì cái trò kiểm tra quái gở này. Xin đừng nói đây là trường hợp cá biệt, không phải “chủ trương chung”. Mấy ông linh mục kia đã được đào tạo trong một môi trường, não trạng như thế nào mới có lối hành xử mang hơi hướm tòa dị giáo cách nay gần 900 năm? Những người giáo dân kia được răn dạy như thế nào mới có được “đức vâng lời” đến thế? Ngày còn bé chúng tôi được dạy rằng linh mục là cái “máng xuống ơn”. Máng có rỉ sét, móp méo thế nào vẫn bảo đảm ơn Chúa xuống đầy đủ, tinh tuyền và “dù các ngài hèn mọn mặc lòng song le ta phải kính…”! Nhưng Chúa ơi, Chúa có muốn xuống với chúng con qua những cái máng kia không ạ?

               Trong chuyến hành hương La Vang năm 2002, lm. Đỗ Xuân Quế, OP trong cuốn “Đến mà nghe tôi kể” đã tiếc là Đại hội không tổ chức các buổi hội thảo, thuyết trình dành cho giáo dân đành rằng nhiều người không quen, không thích sinh hoạt theo kiểu này. Và tác giả nhận xét: “Người ta thích vui, không thích những gì hơi đòi hỏi một chút trong sinh hoạt tinh thần, dù là để đạt tới một trình độ cao và sâu hơn trong sự hiểu biết”. Trong các dịp lễ lạt, không ít người, nhất là các bạn trẻ thường chú trọng đến hình thức rầm rộ, đầy màu sắc bên ngoài cũng như tính chuyên nghiệp của dàn đồng ca mà không giữ lại, tiếp cận được nội dung buổi lễ, buổi diễn nguyện cần truyền đạt.

              Cũng không trách những người đồng đạo của tôi được. Họ đã được các đấng bậc dạy dỗ suốt mấy trăm năm nay rồi và họ luôn an tâm, cần mẫn tích góp của cải đời sau cho riêng mình.

            Từ trước 1975 đến nay tôi được đọc một số sách, bài báo hầu hết là của các linh mục viết về tình trạng giáo hội, giáo hữu Việt Nam. Các tác giả đều nhận xét rất rõ “những cái chưa được” ở nhiều lãnh vực trong đời sống đức tin của giáo hội cũng như việc giữ đạo của giáo dân. Có những phân tích làm chúng ta ngỡ ngàng, đau xót. Nhiều biện pháp đã được đưa ra, kêu gọi, cảnh báo… nhưng sao tất cả vẫn cứ loanh quanh trong những “khu an toàn” kia. Không chỉ hàng giáo sĩ, nhiều giáo dân muốn đóng góp phần của mình, muốn xây những cái cần phải xây, muốn sửa những cái cần phải sửa để hình ảnh giáo hội không lạc lõng, nhạt nhoà giữa cộng đồng dân tộc. Nhưng vì là giáo dân nên họ cũng không thể làm gì hơn, không có dịp để nói và nói cũng không ai nghe mặc dù đã có nhiều điều khoản giáo luật, nhiều văn kiện giáo hội đề cao vai trò, chỗ đứng của người giáo dân.  

Hay là phải có những “bước đột phá”? – nói theo ngôn ngữ thời thượng bây giờ. Thế nhưng, trong quá khứ, vào những thời điểm khác nhau, nhiều nhóm thiểu số, linh mục có, giáo dân có đã muốn nhen nhúm, khơi gợi những bước đột phá ban đầu và tất cả – về mặt nào đó – đã bị cô lập, thậm chí bị loại trừ trước những định kiến thủ cựu, có khi vừa rụt rè vừa cực đoan, trịch thượng.

             Hiện tại, chúng ta hài lòng với việc xây cất, sửa sang nhà thờ đồ sộ, khang trang. Hài lòng vì buổi lễ nào cũng chật kín, mọi người siêng năng đọc kinh, đi kiệu. Lại có nhiều người đi tu. Rõ ràng nước Cha đang trị đến. Nhưng nhiều lời cảnh báo đã được đưa ra, tình trạng này sẽ là một nguy cơ, không biết còn kéo dài được bao lâu nữa khi xã hội ngày một phát triển, giàu có hơn và thường song hành cùng trào lưu tục hoá. “Ba thù” của chúng ta cũng tinh vi, hấp dẫn và khó nhận diện hơn xưa rất nhiều. Có người bi quan hơn cho rằng chúng ta đang đi trên con đường dẫn đến tình trạng hiện nay ở các giáo hội bên Âu Mỹ: nhà thờ, tu viện vắng vẻ, đìu hiu; lòng người nguội lạnh, thờ ơ? Rồi đầu óc địa phương, tư tưởng bề trên cha chú đã gặm nhấm niềm tin người trong đạo, gây khó chịu, khôi hài cho người ngoài đạo.

            Xưa kia những bài Thánh vịnh đẹp nhất, hay nhất hầu hết đều được cảm tác trong thời kỳ dân Chúa bị lưu đày ở Babylon. Nhận xét này không sai vì trong những hoàn cảnh dễ dàng, sung túc, người ta thường nghiêng về những cái rình rang bên ngoài, thậm chí là phô diễn.

            Phải chăng vì bị cuốn theo những bề nổi, bề ngoài kia mà ngay trong thời kỳ yên ổn, đầy đủ phương tiện công việc truyền giáo của giáo hội vẫn không bằng những giai đoạn đau thương bị bách hại. Trong 30 năm từ 1970 đến 2004 người công giáo theo tỉ lệ dân số tăng chưa tới 1%. (Trần Kim Ngọc, OP). Trước tình trạng trên, tác giả “Đến mà nghe tôi kể” cũng đặt câu hỏi: “Tại sao đạo của chúng ta chặt chẽ và quy củ như vậy, tại sao các đoàn thể của chúng ta vui vẻ, sầm uất, tại sao các nghi lễ trong nhà thờ đẹp mắt như thế mà số người vào đạo chẳng được bao nhiêu. Có một cái gì tiềm ẩn như một tấm bình phong ngăn cách và che đậy, chưa cho người ta nhìn thấy thực chất và sức quyến rũ đích thực của đạo chúng ta?”.

             Có phải những cái bề nổi, bề ngoài tuy sầm uất đầy ấn tượng kia đã che khuất những điều đáng lẽ phải được tỏ hiện ra để “thế gian nhận biết anh em là môn đệ của Thầy”. Có phải vì chúng ta chỉ khư khư giữ lấy đạo mà quên rằng muốn có những ngôi sao lạ như xưa dẫn đường ba nhà Đạo sĩ tìm đến Chúa, người công giáo phải sống đạo, phải khác hơn như thế nào. Một nếp sống đạo dồi dào, nặng về chiều sâu mới đủ sức thổi bùng lên những đốm lửa phập phù, leo lét lâu nay cứ quanh quẩn chưa lan toả ra khỏi nhà thờ, xóm đạo…Đi theo đường của Chúa vừa là hồng ân cũng vừ là thách đố, đòi hỏi quyết liệt. Nhưng đã bao lần trong cuộc sống – trước những yêu cầu, mời gọi của Ngài – từng cá nhân có khi cả cộng đoàn, số đông, vẫn còn mon men, ngập ngừng, tính toán chi li…Và phải chăng, chính những điều này đã đẩy chúng ta chạy trốn và tìm an ủi trong đạo sinh hoạt, đạo nghi thức.

                                                                                                                             *

            Được tin giáo hội nhà sắp mở Đại hội dân Chúa vào tháng 11 tới đây, lòng những khấp khởi mừng vui vì đây là dịp hiếm hoi để bổn đạo nêu lên những suy nghĩ, ý kiến khác nhau về nhiều vấn đề có thể ít khi được đề cập đến. Nhưng với chủ đề “Giáo hội mầu nhiệm-hiệp thông-sứ vụ”, đây lại là một đợt giáo dân học tập và làm theo giáo huấn của giáo hội. Đại hội kêu gọi mọi người chung tay thiết kế ngôi nhà chung của dân Chúa. Theo như “Lời chủ chăn” ngày 14.8.2010, bản vẽ, vật liệu, nhân sự và các thứ cần thiết để xây dựng ngôi nhà đều đã có sẵn. Việc xây ngôi nhà không khó. Việc cần làm là Đại hội tìm ra những phương thức sửa sang, gia cố, chấn chỉnh, phục chế thường xuyên để ngôi nhà “trở thành mái ấm tình thương, nơi liên kết, biểu hiện của văn hoá sự sống, nơi làm chứng sống động, rao giảng hữu hiệu Tin mừng Thiên Chúa…”. Và như thế, ngôi nhà mơ ước của dân Chúa mới không nằm lại trên bản vẽ.

             Ba chủ đề, ba món ăn tinh thần cao cấp, thật bổ dưỡng nhưng làm thế nào để “hội nhập” các tầng lớp dân Chúa khi họ vừa là thợ xây chính vừa là người cư ngụ trong ngôi nhà kia. Đã có nhiều Thư chung của HĐGM, Thư mục tử diễn tả theo ngôn ngữ nhà đạo – dù rất quen thuộc, lập đi lập lại nhiều lần – mà sao vẫn cứ bay bổng, chưa đáp xuống, chưa chạm đến suy nghĩ, hơi thở đời thường của người tín hữu hàng ngày phải đối mặt với bao bận rộn cho cuộc mưu sinh, với bao hệ lụy dai dẳng khi là một Kitô hữu trong xã hội này. Chúng tôi muốn thấy, muốn nghe ở những nơi cần sự có mặt, vào những lúc cần tiếng nói của giáo hội.

          Trong đạo chúng ta có bao điều thiêng liêng phải tôn kính. Nhưng có nhiều việc hữu hình, nhìn thấy được, đếm được mà không biết vì lý do gì lại được xếp vào danh mục thánh thiêng khiến người giáo dân phải dè dặt khi muốn đụng chạm đến dù với cả tấm lòng thành. Chuyện xây cất nhà thờ, nhà chung, chuyện độc thân của linh mục, việc sử dụng các khoản đóng góp trong giáo xứ và nhiều chuyện khác nữa đều là những chuyện đời này. Giáo dân cứ bàn tán xầm xì, theo dõi, nghe ngóng…và cuối cùng lại hẹn đến…ngày phán xét chung. Đành rằng mỗi việc chúng ta làm đều phải trả lời trước mặt Chúa trong “ngày kinh khủng ấy” nhưng thời gian Chúa ban cho đời người thật ngắn ngủi nên trong cái hữu hạn của mình, mọi người đều phải góp phần tốt nhất cho giáo hội Chúa mà không chờ đến đời sau. Trong Chúa, chúng ta vừa là cha con vừa là anh em nhưng sao vẫn còn nhiều điều chưa nói được với nhau cách công bằng, minh bạch? Sao vẫn còn nhiều cái chưa muốn nghe nhau, thấu hiểu nhau?  Tạo điều kiện thuận lợi để người giáo dân được nói không quan trọng bằng điều họ nói được tôn trọng và lắng nghe.

                                                                                                                       *

          Trước thềm Đại hội dân Chúa, những suy nghĩ rời rạc, mộc mạc trên đây không haún là một bản góp ý kiến, càng không phải là bài phân tích, nhận định vì tất cả đều xưa cũ, ai cũng biết – mặc dù có nhiều điều tuy cũ xưa nhưng đôi khi vẫn còn mới nguyên vì chúng vẫn còn nằm trên giấy. Có thể xem đây như bó hoa thiêng liêng dâng lên Chúa, cầu xin cho giáo hội một Lễ hiện xuống mới và chờ mong…

                                                                                                                                                                                                                                                   (Đại hội Dân Chúa 2010)