NGUỒN GỐC TẾT THUẦN VIỆT – chuyên gia thương hiệu Võ Văn Quang

Bài viết có sử dụng nguồn tư liệu chính do BS Nguyễn Hy Vọng (Hoa Kỳ) biên khảo về ngày Tết từ rất nhiều nguồn từ điển ngôn ngữ và văn hoá cổ kể cả National Geographic, và những công trình uy tín như Ancient China (Edward Shafer, New York); The languages of China before the Chinese, (Terrien de Lacouperie, London)

Ngày Tết xưa được gọi là Tế-Sạ chứ không phải Tiết

Tế-Sạ ! 祭 蜡 [âm Hán Việt là Tế Chá].

Khổng Tử nói [trong kinh Lễ Ký]: « Ta không biết Tết là gì, nghe đâu đó là tên của một ngày lễ hội lớn của bọn người Man, họ nhảy múa như điên, uống ruợu và ăn chơi vào những ngày đó. Họ gọi tên cho ngày đó là “TẾ SẠ”. ».

Khổng Tử không nghĩ rằng « tiết » là cái âm sinh ra Tết, nên ổng mới phiên âm khác đi là Tế-Sạ. Hơn nữa, xem trên, có cả chục ngôn ngữ và nền văn hóa khác với Tàu. Ăn mừng ngày đầu năm của họ mà vẫn mang những cái tên mà ý nghĩa, phát âm, cùng cách nói và cách đọc đều giống với cái âm, cái tên, cái tiếng Tết của dân Giao Chỉ và của dân Mường, nên ta phải « suy nghĩ lại » về cái hiểu lầm Tết là Tiết của các ông « Hán Việt » hơn mấy trăm năm qua.

Tiết 節 không được dùng như một từ đơn, thường dùng với các từ khác để tạo nghĩa như: Xuân Tiết, Tiết Khí, Thời Tiết…Tiếng Việt và cả chữ Hán vẫn dùng như thế từ xưa đến nay, và cũng xin miễn bàn về nguồn gốc với những bằng chứng ‘văn tự’ cổ vừa được khảo chứng tại Cảm Tang (Quảng Tây) vùng cư dân Lạc Việt (5000 năm) tức 2000 năm trước khi nó được gọi là chữ Hán, cùng với một hệ thống thiết chế văn hoá, hay văn hiến hội tụ nhiều nhất trong chuỗi văn hoá Tết, vẫn còn lưu truyền đến ngày nay, ngay cả trong vùng Quảng Tây và nhiều nơi khác ở miền Hoa Nam Bách Việt tức vùng Đồng Bằng Dương Tử lưu truyền trong truyền thuyết về nhà nước Văn Lang. Tại Việt Nam tín ngưỡng thờ Vua Hùng cũng được Unesco công nhận là di sản văn hoá nhân loại. Đó là một huyết mạch không ngừng lưu truyền qua hàng nghìn năm, là sức mạnh phi vật thể giúp người Việt và nước Việt tồn tại, được thăng hoa trong mùa hội Tết (Tết – Fest).

Mặc dù Khổng Tử đã nói có sách mách có chứng như thế, mà các nhà Hán học sau này (cả Tàu lẫn Ta) vẫn khăn khăn cho rằng Tết là mượn từ Tiết 節 trong tiếng Hán. Buồn thay cái não trạng cho rằng tất cả văn hoá Việt là từ văn hoá Tàu mà ra. Trong Hán tự có đến 40 chữ Tiết khác nhau có cùng âm đọc là “Tiết” vì bản chất chữ Hán không chỉ là đơn âm và còn trùng âm. Người Việt và dân Đông Nam Á cổ đại với vốn ngôn ngữ đa âm phong phú lại đi vay mượn 1 từ có 40 trùng âm khác nhau, rõ là lú lẫn mới suy luận lô-gic như thế.

Sự thật là chính người Hán (sau thời Khổng Tử) mới tiếp biến văn hoá Việt Tộc (nói rõ nghĩa đen là xâm lăng hay ăn cướp) vì không thể phát âm chữ Tết nên mới dùng Tiết và Xuân Tiết để thay thế.

Một tộc người tiêu biểu vẫn gìn giữ bản sắc ProtoViet và không di dân lên phương Bắc, đó là người Mường sống cố định từ thời kỳ tiền Văn Lang hàng chục nghìn năm qua, ở Hoà Bình Việt Nam; khảo cổ chứng minh các di chỉ văn hoá trên đất TQ như Longshan, Yangshao, Hemudu… đều có dấu vết từ văn hoá HoaBinh. Tháng 11-2018 lần đầu tiên Hội thảo nguồn gốc Họ tộc Việt Nam đã khai mổ không gian nghiên cứu ra khỏi biên giới xa hơn về phía Bắc, cùng sự tiến bộ tri thức khoa học và thiên di của DNA – Gene xác thực những con đường thiên di của cha ông chúng ta (ProtoViet) lên phía bắc và hình thành văn minh Trung Hoa trước Hán tộc.

Phong tục Tết người Mường hay Chuang Quảng Tây vẫn giữ nguyên vẹn với hàng loạt thiết chế nguyên bản, và nguyên sinh chứ không bị ngoại lai hay ‘được khai hoá’ bời Hán tộc như vẫn có người lầm tưởng theo thói quen suy nghĩ văn minh Việt có được là nhờ Hán hoá (?).

Xưa nay người Mường vẫn gọi Tết là ‘Thết’ và ‘ăn Thết’.

Ngay cả chữ Tế-Sạ được Khổng Tử viết là 祭 蜡Tế Chá rất rõ ràng chứ không có chữ Tiết nào cả. Đồng thời cũng cho chúng ta biết vào thời kỳ Xuân Thu tiếng Việt vẫn còn đa âm. Nhà Chu trong thời kỳ giao lưu văn hoá Việt thì chữ Chá dùng như là Lễ tất niên. Nhưng không có từ nguyên (hay to-tem gốc) về chữ Tết hay ý nghĩa tương tự. Trong văn học chữ Hán-Nho xưa nay từ để dùng thay cho Tết phổ biến nhất ở dạng từ đơn đó là chữ Xuân – Chun 春, còn tiết thì phải ghép thì mới có nghĩa, ví dụ như Đông Tiết, Xuân Tiết… Ngay cả cụng từ Tiết Nguyên Đán cũng không được sử dụng thay cho Tết tại TQ ngày nay.

Về mặt khí hậu, vùng địa lý có thời tiết tháng Chạp và tháng Giêng phù hợp cho nông nghiệp sau vụ gặt lúa Mùa và ăn Tết thì phù hợp nhất là từ miến Bắc VN lên tới nam Dương Tử. Xa hơn về phía Bắc ở sông Hoàng Hà vào tháng ấy tuyết băng phủ dày, nhiệt độ âm -10 dộ C khí trời giá lạnh và nhất là lối sống du mục không có trồng cấy hay mùa màng gì. Ở phương Nam vùng Đông Nam Á đón Tết xưa vẫn là sau vụ Chiêm đến đầu kỳ gió mùa (monsoon) khoảng tháng 4 tiêu biểu là người Khmer và các sắc dân bản địa lâu nay vẫn không đi dân như người Việt hay Thái.

Như vậy, Tết là tên gọi cái ngày ăn mừng đầu mùa mưa với tên gọi Tết-Sạ theo đúng nghĩa đen tiếng Việt, thì đó chính là ngày Tế của việc Sạ hay cấy lúa, và sau này trở thành ngày ăn mừng đầu năm âm lịch luôn của các dân Mường, Nùng, Thái, Zhuang, Chàm, Mon, Khmer…Như vậy cũng dể trả lời cho Khổng Tử ‘ta không biết đó là gì?’ gọi là Tế-Sạ thì đúng là Tế-Sạ vậy, chứ đâu có nghĩa gì khác nữa.

Từ thời nhà Hán xâm chiếm Nam Việt của Triệu Đà, đến sau khởi nghĩa Hai Bà Trưng, cộng đồng Bách Việt và Lạc Việt bị xâm lăng và đồng hoá. Phương Bắc tiếp cận Văn Hiến Việt của phương Nam, trong đó dĩ nhiên có cả hệ thống thiết chế văn hoá Tết. Tuy nhiên tính Minh Triết Việt bị thất truyền vẫn được Lạc Việt và Đại Việt khôi phục, gìn giữ và thăng hoa cho đến ngày nay.

Tết – về việc chứng minh Bản quyền Văn Hoá.

Sau đây là những cognates, từ đồng nguyên, khắp Đông Nam Á, dính líu với TẾT.

Alexandre de Rhodes: Tết, ăn Tết. Chính ngài Alexandre de Rhodes là người đầu tiên đặt bút viết nên chữ TẾT bằng mẫu tự La-tinh sau hàng nghìn năm có tiếng mà không có chữ phải mượn chữ Tiết của Tàu để viết thay.

Từ Điển Khai Trí Tiến Đức : không hề cho rằng Tết là tiết của Tàu.

Nùng: Tết. niên Tết là năm Tết.

Muờng: Thết, ăn Thết là ăn Tết.

Lưu ý cùng phát xuất từ văn hoá Hoà Bình trong hậu kỳ đồ đá mới (Neolithic) khai sinh nền Nông nghiệp, người Mường không di dân lên phương Bắc sau kỳ nước biền dâng (lục địa Sundaland ĐNÁ cổ rộng lớn và liền lạc, có mực nước biển thấp hơn ngày nay xấp xỉ 100 mét). Người Mường là tộc người gần gũi nhất về ngôn ngữ (tiếng nói) và phong tục Việt cổ vẫn còn lưu giữ đến ngày nay.

Thái: Thêts Lễ mừng năm mới.

Thêts khal là Mùa Tết, những ngày Tết.

Thêts Thày là Tết Thái [Thai New Year’s celebration].

Thrếts là Tết [theo Từ Điển Francais-Thái của Pallegoix].

Thrếts Chìn là Tết Tàu / Chinese New Year [Chìn là Tàu].

Tết / Đết là tên ông thần mua [rain god, monsoon deity].

Người Thái xưa là nhánh Âu định cư ở vùng Quảng Tây, Vân Nam thành một dải kéo dài xuống Myanmar, Tây Bắc Việt Nam, Lào và Thailand ngày nay. Hậu kỳ Hùng Vương người Thái (Âu Việt) là một phần của quốc gia Âu-Lạc của Thục Phán An Dương Vương.

Zhuang: Xit / Sit là lễ Tết của 20 triệu người Zhuang bên Quảng Tây,

nói tiếng Tai, tiếng Thái xưa !

đuon Sít là tháng Tết

Chàm: Tít là lễ tháng năm của lịch xưa Chàm [tháng gió mùa bắt đầu thổi]

băng Tít là ăn Tết.

Chêt là Tết.

bu-lăn Chêt là tháng Tết [bu lăn là tháng, tiếng Chàm].

Ktêh là lễ hội lớn nhất trong năm của nguời Chàm.

Mon: Kteh là Ngày đầu năm của dân tộc Mon ở Myannar.

o-Teh là lễ hội lội bùn đầu năm.

o-Tet id k-Tât là nghi lễ đầu năm.

Khmer: Chêtr là Tết, lễ mừng tháng năm theo cổ lịch Khmer, là tháng gió mùa bắt đầu thổi ngược lại, tháng của mùa gió nồm ở Đông Nam Á. [tùy theo nơi, từ cuối tháng tư đến cuối tháng năm].

India: Chêtr là tên tháng tư và tháng năm của cổ lịch Ấn Độ, tên của

tháng giao mùa đem mưa đến. [mois du début de la mousson].

Nepal: Teej là lễ đầu năm của dân xứ Nepal.

Mustang: Tidj / Tidji là lễ đầu năm của xứ Mustang, bên cạnh xứ Nepal.

Miền đông bắc Ấn Độ.

Munda: Teej là lễ hội Gió Mùa, các nữ sinh ca hát những bài hát cổ Teej,

để đánh dấu Gió Mùa trở lại và sự hứa hẹn thịnh vượng.

[National Geographic magazine].

Thiết chế văn hoá của Tết

Tết là một tổng hoà các hoạt động, biểu trưng, thiết chế văn hoá của toàn thể dân chúng không phân biệt sang hèn hay vua tôi…và đã hình thành trong không gian văn minh lúa nước của cộng đồng Việt Cổ (protoViet) từ Đông Nam Á lên khai phá miền Nam Trung Hoa ở Đồng bằng sông Dương Tử, sau đó lan truyền rộng khắp Trung hoa sau thời kỳ xâm lăng của phương Bắc (Mongoloid). Tuy nhiên người Lạc Việt đã xuôi Nam và lưu giữ nền văn hiến lâu đời của mình cho đến tận ngày nay trên dải đất Việt Nam chữ S và cả hàng triệu người Việt sống trên hàng trăm quốc gia khắp thế giới.

Tổng kết thiết chế đầy đủ văn hoá Tết bao gồm, theo phạm trú hay nhóm:

1) Văn hoá vật thể, sản vật thiên nhiên nông nghiệp: trồng Hoa và chơi hoa Tết; Ẩm thực vật thể; mua sắm quần áo mới; dọn dẹp trang trí nhà cửa sạch và đẹp và có ý nghĩa (chạm đến tinh thần); Công ty lo tiền thưởng Tết; trả Nợ đã vay trong năm cũ

2) Phi vật thể và tinh thần: Lau dọn bàn thờ tổ tiên; Chơi câu đối và Tranh Tết như tranh Đông Hồ, tranh thờ, liễng thờ, các bức đại tự; Chuẩn bị đi Chùa, cúng Đình; dọn sạch mồ tả ông bà; cúng đất, cúng các vật dụng lao động; gánh nước đổ đầy lu khạp…

3) Văn hoá trình diễn: múa hát sân đình, hát sắc bủa, hát Xoan, hát Văn hay giao duyên, hay Quan họ; hội vật; hội bài chòi…

4) Tâm linh & Minh Triết: các lễ cúng Táo quân, dựng cây Nêu, cúng Tất niên, lễ đón giao thừa, lễ xông đất, hái lộc. Xem quẻ bói quẻ. Các ừng dụng Phong Thuỷ trong việc nhà cửa mồ mả; xin chữ và câu đối; đốt pháo và múa Lân;

5) Gặp gỡ & Du Xuân: đi thăm viếng Thầy, nhà thờ Họ tộc, thăm các bậc trưởng thượng cao niên; đi viếng đình chùa; du xuân ngắm cảnh; hội trồng cây…

Hệ thống thiết chế văn hoá và Tết Việt sẽ là một đề tài rộng lớn, phong phú và thực tiễn. Ngay như một ngành kinh tế mũi nhọn hiện nay là Du lịch, rất cần sự khảo cứu và giải mã làm cho quốc tế hiểu rõ hơn giá trị bản sắc và nền văn hiến lâu đời của Việt Nam.

(Nguồn FB) (A.TCK st)