50 NĂM VÀO TRƯỜNG – Khanh ’69

Thày Ý đứng giữa boong tàu, người lắc lư theo nhịp sóng ‘’Tính tính tính tình tang tang tang, cuộc đời mình như chiếc thuyền nan trôi nó trôi bồng bềnh…’’. Anh em chúng tôi ngồi chung quanh tay vỗ đều. Xa xa trong góc tàu, một nhóm khác ngồi nghe anh Hội kể chuyện Thiên Long Bát Bộ, Đoàn Dự đi lăng ba vi bộ. Đầu con tàu HQ nhô lên rồi lại hạ xuống. Hôm nay nắng ấm, nhưng gió nhẹ. Anh em chúng tôi mới nhập trường được mấy ngày, cha bề trên Hiếu mừng bổn mạng Gioakim, cha cho cả trường một chuyến cắm trại tại núi Bãi Dâu, mà lại đi bằng tàu Hải quân Mỹ, qua sự giúp đỡ của cha tuyên úy Lễ. Với những chú bé mười hai tuổi đầu thì đây là chuyện trong mơ, quên nỗi nhớ nhà.

Rời bến Bạch Đằng từ 7 giờ sáng đến 4 giờ chiều thì tàu cặp căn cứ Rạch Dừa. Những chiếc xe nhà binh không bạt che đã đợi sẵn anh em chúng tôi trên bờ để chở về Bãi Dâu. Tôi run rẩy bước qua chiếc ván nhỏ bắc từ mạn tàu. Thấy thế anh lính Mỹ đen nhe hàm răng Hynos cười tươi, ẵm tôi đặt lên bờ nhẹ nhàng. Sau này lưu lạc qua xứ người, sáng sớm đi làm lên xe điện nhìn mấy ông da đen, tay lon cơm tôi lại nhớ đến anh. Những dịp lái xe qua tiểu bang Vermont tôi đều ghé vào viếng bia đá Veteran, nơi khắc tên gần hai ngàn thanh niên Mỹ tiểu bang này đã hy sinh trong cuộc chiến Việt Nam. Tôi lại nghĩ đến người lính Mỹ năm nào. Hãy ngủ yên những viên đá xanh, dù cuộc chiến tàn không như giấc mộng các anh. Tới núi Bãi Dâu, sau khi căng lều, tối đó chúng tôi đốt lửa trại, chơi tìm kho tàng theo dấu mật mã. Cuộc đời oái oăm, mười năm sau, năm 1979 cũng tại Bãi Dâu này tôi xuống tàu vượt biên. Rồi tiếng súng nổ, tôi nhảy xuống nước và chạy ngược lên núi, men theo con đường xưa em đi, để rồi mấy giờ sau tôi cũng lên xe nhà binh Molotova chở về ấp Xuyên Mộc.

Anh công an trẻ tuổi giọng nặng vùng đất đỏ Bà Rịa hỏi: Trước 75 tôi làm gì. Tôi đi học. Học trường nào?  Do dự một giây tránh chữ Taberd tôi nói Chủng viện. Tôi thấy mắt anh sáng lên anh học y tá à. Không hiểu tại sao anh ta nói thế?  Mệt mỏi suốt đêm trôi nổi, sợ hãi, xen lẫn chán chường, tôi gật đầu đại. Cũng nhờ hai chữ ‘’chủng viện” mà sau này thay vì phải vào rừng đốn cây làm rẫy, tôi được gọi làm ở phòng y tế trại giam. Thật may, ở đây bịnh nào cũng chỉ có xuyên tâm liên không có tiêm ‘’chủng’’ gì cả. 

Năm 69, anh em lớp chúng tôi người thì vào chủng viện Saigon anh dũng, người thì ra Kontum kiêu hùng, ai cũng đều giỏi cả và giỏi ngang nhau. Bình thường CV Saigon chỉ nhận 60 em mà năm nay phải nhận 68, bỏ thì tiếc. Xã hội VN giai đoạn này chịu nhiều thay đổi vì những tiến bộ khoa học cũng như cách sống mới Tây phương du nhập. Lối giáo dục chủng viện cũng phải thích nghi. Cha Tấn đi du học về thay cha bề trên Hiếu. Cuộc chiến tranh VN như ngọn lửa bùng mạnh trước khi tắt. Thời kiệm ước anh em phải về nhà cuối tuần, chủng viện hết tiền không nhận học sinh mới.  Saigon với những phong trào híp pi, nhạc trẻ, phim đốc tơ Jivago, Love Story, Romeo Juliette, Đường Sơn đại huynh, Tinh võ môn, Chân trời tím, Mùa thu lá bay… ảnh hưởng rất nhiều đến chúng tôi đang tuổi lớn. Sáng suy niệm chị em Madalena với cha Hiếu, tối cha Oánh chiếu phim Mưa Rừng, nghe Thẩm Thúy Hằng ngọt ngào ‘’thày cai nè…’’ nghe đã lỗ tai làm sao. Cuối tuần ra ngoài trở về trường, vài anh em đã bắt đầu ôm guitar nghêu ngao Sunday Morning, giờ triết lý thật buồn, em đi qua chuyến đò anh xin làm đá cuội lăn theo gót hài… Rồi nhiều anh em xin về: …Gẫy….!

Tôi nhớ những buổi sáng thứ Năm, anh em lớp được ra ngoài đi dạo. Chúng tôi đi dọc bờ kinh Thị Nghè, có nhóm đi dạo thăm người giàu trong… nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi. Một số vào viện dưỡng lão hớt tóc cho các cụ nghèo. Trưa về ăn cơm kể chuyện cho nhau nghe. Đứa khoe viên đá mài lượm được ngoài nghĩa trang, em khác khoe cá ba màu vớt ở kênh Nhiêu Lộc, giơ tay khoe vết ong chích. Cách đây mấy năm về thăm quê nhà, kênh rạch Thị Nghè nay là những chung cư cao tầng, khu vui chơi. Đêm nằm nghe vẳng tiếng dế kêu, quen tay xắn quần sợ chân lấm, vợ đập vai nhắc chú Việt kiều, nhớ làm chi rứa chuyện kênh Nhiêu lộc.

Sau năm 75, phía bên TCV bị tiếp thu làm trường cán bộ tài chánh. Người dọn phòng cuối cùng, cha Du. Các cha giáo phải dồn qua ở bên ĐCV. Nơi đây các cha cho mở xưởng làm vỏ xe đạp, rồi thì lá buông, mành trúc, sơn mài, xưởng mộc, làm nấm… Anh em mình giỏi thật chẳng kém ai. Một ngày cha bề trên Hiệp gọi tôi vào, ngài bảo chủng viện mới ký hợp đồng với hãng Agrimexco, tầng một dãy nhà ngủ quay ra nhà kín sẽ làm kho hàng. Tôi sẽ làm thủ kho kiêm bảo vệ. Từ đó mỗi tối tôi đi rảo một vòng nhà trường. Trong nhà cơm TCV, các bàn đá dồn vào một góc cùng mấy lu nước thuở nào. Dưới gầm bàn còn sót lại mấy khăn lau đĩa muỗng của các chú. Tiếng cắc kè bông vẫn chặc lưỡi trên xà ngang. Chính nó, tôi biết nó từ lâu, “nhân chứng” của những bữa cơm thân thương TCV.  Nhà nguyện TCV chìm trong bóng tối vắng lạnh. Vòng ra mộ Wibaux tiếng dế kêu từ khắp hướng não nề, cỏ cây chen lá đá chen rác. Đàn dơi buông mình trên mái ngói hành lang nghe động bay tứ hướng. Tôi còn nhận ra mấy viên ngóí bể, một lần thảy hụt banh bóng rổ. Tôi biết cha Tấn hay vào nhà nguyện TCV mỗi tối như để tìm lại những ngày xa xưa. Mới ngày nào đó cha ngồi trên cung thánh xướng thánh vịnh cùng các chú sau khi rước lễ.

Chúc tụng Chúa đi mây trôi chớp giật, chúc tụng Chúa đi núi cao sông ngòi, nào ta hãy chúc tụng Chúa đi…

Sau này cha hay rủ tôi đọc kinh tối với cha. Cũng thánh vịnh cha xướng: Sáng danh Chúa Cha… từ muôn đời cho đến thiên thu vạn đại.

 Trong cái vắng lặng TCV, tôi nghẹn ngào đáp Amen. Tôi muốn sáng danh ngay bây giờ không kiên nhẫn đợi đến thiên thu. Màn đêm bao chùm cả TCV. Thường kết thúc kinh tối, cha thích hát bài kinh cầu Đức Mẹ.

Trong cơn gian nan linh hồn con bối rối, cho con tin yêu nơi quyền phép Mẹ. Giọng cha hát khàn khàn tôi nhớ mãi. Đêm cuối trước ngày rời nước ra đi, cha mở tủ đưa cho tôi bộ áo veste, mấy quần tây, đôi vớ, áo thun trắng, quần lót mới tinh. Tất cả đều mác Pháp. Cha nói bộ áo cha may đi du học mặc vài lần, ngày đi ngày về nước, con giữ mà mặc, bên đó lạnh lắm. Đây không phải lần đầu cha cho tôi. Trước năm 75, chủng viện hay bị người ngoài vào ăn cắp đồ. Một lần đi học về va li tôi bị lục tung mất hết quần áo. Cha Tấn gọi tôi vào phòng đưa một ngàn đồng cuối tuần ra ngoài may cái khác. Vài năm trước đến thăm cha, cha không còn nhận ra tôi, nhưng khi nhắc đến cái áo veste kỷ niệm, cha ồ lên ngay.

Chủng viện nay đã sửa sang lại nhiều, dãy nhà cũ sơn phết lại. Nhìn nhà để xe Trung tâm mục vụ tôi lại nhớ đến góc sân nơi cha Thăng để chiếc xe đạp mỗi lần vào TCV dạy học. Nhớ chiếc áo dòng đen bạc màu sờn gấu của cha. Cũng nhớ đến chiếc xe camion rỉ sét của cha xứ Cà Mau đậu trước núi đá Đức Mẹ mỗi đầu tháng. Áo dòng đen trắng bụi đường, cha lên Saigon mua đồ dùng về cho giáo dân. Có lần tôi thấy xe của cha chi chít lỗ đạn, với giọng nam đặc sệt nước phèn, cha nói tụi nó đắp mô đòi mãi lộ… Cha Bửu Diệp có khắp mọi nơi. Thật đẹp bước chân người đi gieo hạt giống trong chiếc áo đen bạc màu.

Ngày xưa mỗi lần có việc phải vào phòng cha bề trên Hiếu tôi sợ lắm, sợ vẻ đạo đức nghiêm trang của cha toát ra. Vừa gõ cửa nghe tiếng cha nói ‘Dzz…ô’, tim tôi đập nhanh. Sau năm 75 cha lại là người gần gũi an ủi tôi nhiều nhất. Nhà dòng Thủ Thiêm nơi cha làm linh hướng gọi cha là ‘chị Ba’ vì sự dịu dàng của cha. Có lần nhờ cha sửa cái líp xe đạp, mua líp mới mang đến, tuần sau lấy xe cha thay hết viên bi líp cũ, sửa như mới. Ngày rời quê hương tôi đến chào, lời cuối tôi nghe từ cha, con hãy đi để thấy cuộc đời đâu cũng là tạm bợ, Chúa mới là nơi nương thân. 

Lúc cuối đời, cha thích nghe bài hát: Con muốn là hoa hướng dương là hành tinh quay quanh mặt trời. Qua xứ người, năm giờ sáng, thấy xe điện đầy người chen chân đi làm, tay lon cơm, tôi suy niệm lời cha dặn.

Năm lớp chín thày Báu ở bên ngoài vào dạy tiếng Pháp. Thày tổ chức nhiều sinh hoạt cho lớp. Thày mượn phim trung tâm văn hóa Pháp cho anh em trau dồi sinh ngữ. Chúng tôi chiếu phim James Bond ở nhà thờ Huyện Sĩ để gây quỹ đi du ngoạn Đà-Lạt.  Buổi chiếu phim thành công, vì nhiều người đến xem nhưng chúng tôi lỗ vì anh em giữ xe để mất phải bồi thường. Lớp còn tổ chức những khóa sửa điện, sửa đồng hồ do anh Ngọc, anh Trị phụ trách. Ra học bên ngoài Taberd anh em rạng mặt, các thày bạn bè đều kiêng nể. Thày Cư dạy toán, thày Trung dạy tiếng Pháp mỗi khi đặt câu hỏi khó cho lớp, biết anh em khiêm nhường, cuối cùng các thày bao giờ cũng nói các chú TCV đâu rồi. Sư huynh Đại nhờ anh em chúng tôi soạn phụ giáo án dạy tiếng Pháp của ông, cho đến khi hoàn thành in ấn. Cha Yêng đánh giá rất cao và dành ưu ái đặc biệt cho lớp chúng tôi. Cha cho nhiều anh em ra ngoài học thêm nhạc lý, đàn với cha Tiến Dũng.

Cũng như các trường bên ngoài, chúng tôi cũng có những phong trào thể dục thể thao võ thuật. Những buổi tập thể dục từ năm giờ sáng, mắt chưa mở mà chân phải chạy theo nhịp còi của thày Phục, thày Huê. Bây giờ nằm giường nệm tôi vẫn cảm thấy chưa ‘‘đã’’ bằng lúc nằm sân xi măng bóng rổ giơ chân lên trời đạp xe, vừa ngắm những vì sao cuối cùng chưa kịp tắt, mùi lá me còn tinh sương. Qua xứ người đi phỏng vấn xin việc, bà đầm hỏi tôi ông có chơi thể thao. Tôi nổ đã từng chơi volley, basket, banh bố, ping pong món nào cũng có, sở trường tuyệt chiêu giò lái Taekondo. Để test tiếng Pháp bà nói tôi kể một phim tôi thích nhất. Tôi miên man nói về phim Benhur. Tôi nói phim này cho tôi nhiều kỷ niệm. Từ xi nê thùng nay chúng tôi được xem phim màu màn ảnh vĩ đại. Cảnh cha giáo tôi, cha Oánh và chúng tôi háo hức giăng vải trắng làm khung, áo maillot trắng của cha vàng mồ hôi… bà đầm rơm rớm nước mắt. 

Diễn tả cảnh thanh bình người ta hay vẽ những bức tranh đồng quê, mạ xanh, sáo diều, hay cảnh các em nô đùa trong sân trường, bên cạnh những tháp chuông giáo đường. Những buổi chiều giờ chơi, trên sân cỏ, cha con tôi chơi boules, một vài anh em trồng cây tưới hoa trước cửa phòng cha Tấn, vài chú đu dây đu cột, nhảy hố cát. Bên kia sân, nhóm khác chơi bóng chuyền bóng rổ, ping pông. Xa xa các cha chơi tennis. Cảnh êm ấm đó cũng không kéo dài lâu. Một buổi tối sau giờ cơm cha Tấn cho họp các lớp. Cha bước vào nhưng tiếng nói chuyện râm ran cười đùa vẫn chưa tắt. Cha giận như chưa từng giận. Các con còn vui cười được sao, ngoài kia người ta đang bám cánh máy bay để được vào Saigon. Rồi hoang mang tin tổng động viên. Vài tuần sau chúng tôi cũng buông cánh tan hàng bay khắp hướng. Nhắm mắt thấy chân trời tím ngắt. Năm nay mừng 50 năm, lớp tôi hơn phần ba sống rải rác hải ngoại và hơn phân nửa bên quê nhà đã may mắn tìm lại nhau. Ngoảnh lại trước người xưa vẫn đó, trông về sau bạn cũ đứng sau. Ngẫm hay trời đất dài lâu, giáp vòng thiên địa gặp nhau cuối đường. Anh em nội tổ chức những buổi họp mặt, dã ngoạn Bãi Dâu ôn lại chốn cũ. Anh em ngoại cũng không chịu thua, chúng tôi cũng có những kỳ nghỉ hè bên nhau xuyên các tiểu bang, các nước. Tiếng thày Ý tiếp tục vang vang hát: anh em chúng ta chung một đường đi…vui là vui quá, vui là vui ghê, vui không chỗ nào chê hết… 

Tháng ba Canada, mùa Xuân đã đến. Nhìn ra ngoài vườn, những lá non đã đâm chồi sau mấy tháng ngủ mùa Đông. Sức sống thiên nhiên thật mãnh liệt, nhưng tôi thì không. Tôi sợ khí hậu giao mùa. Sáng nay thức dậy, chân đau, cố đi từng bực thang xuống dưới nhà. Cũng cặp chân này, cách đây 50 năm, tôi từng nhảy ba bậc thang bên cạnh phòng cha Khả, lúc chuông giờ chơi reo tiếng đầu tiên để dành banh bàn. Lần nào cũng thua, anh em giành trước. Thằng Thái, Đoàn, Đạt, Quí, Chưởng, Bộ… nhảy bốn bực. Cũng đã có vài viên đá xanh này nay đã ngủ yên.

 Lớp chúng tôi nay ai cũng yên phận, mỗi người mỗi ngã, hạt sinh năm sinh ba mọi mặt trên cánh đồng lúa. Anh em mỗi lần gặp lại nhau đều vui vẻ, cái vui đơn sơ của ngày xưa chung mâm cơm, chung sân chơi, chung phòng ngủ, chung lớp học. Hình ảnh anh em bên ly cà phê chia sẻ nỗi ưu tư cuộc sống, gạn lọc kỷ niệm…thật dễ thương. Những hạt cà phê đầu tiên rơi xuống ly bao giờ cũng thơm ngon như tuổi niên thiếu. Đi một quãng đường dài gặp lại nhau khúc cuối, tuyệt .

Giáo lý đạo Phât dạy rằng: bản ngã con người đi từ cái tôi. Cái tôi chi sơ vốn bổn thiện. Khi người ta đi quá cái tôi thì sinh hỷ nộ ái ố. Ngay từ lúc sinh ra nó chỉ biết Mẹ tôi. Quen hơi mẹ qua tay người lạ bé khóc. Lớn lên đi học, nó hãnh diện về Trường tôi, gắn bó với bạn bè. Trăm năm sau vẫn nhớ trường xưa thày cũ bạn hiền. Lúc trưởng thành người ta lại bám vào Quê tôi, sẵn sàng đổ máu để bảo vệ đất nước trước ngoại bang.

Đi xa da diết nhớ nhà. Cha Khả ngày xưa cũng nói về cái tôi này. Cha dán khắp chân cầu thang: “điều gì không muốn người khác làm cho tôi thì đừng làm cho người khác“. Sau này, nhiều anh em thấy chưa đủ nên thêm vô Nhà tôi. Thế rồi hỷ nộ ái ố dục phiền não nay đủ cặp bảy. Cũng chính vì cái Trường tôi này mà 50 năm sau, anh em lớp 69 tập trung hôm nay, hãnh diện vì những gì gặt hái được qua những tháng năm đó, chia sẻ nhau những kỷ niệm vui buồn mái trường xưa. Chúc nhau giữ mãi cái tôi ban đầu tuyệt vời này.

Bạn bè bảo tôi là con chíp điện từ của lớp, chuyện xửa chuyện xưa cái gì cũng nhớ, người muôn năm cũ. Qua xứ người, mùa hè tôi thích đi mua garage sale. Thích tẩn mẩn mấy món đồ xưa mua về chẳng biết làm gì. Có lần đi chợ trời bên đây, thấy lại cái đèn măng sông tôi thích lắm. Nhớ ngày ở VN mỗi khi nhà cúp điện, thấy ông tàu hàng xóm treo nó giữa nhà sáng chưng, lâu lâu thấy ông leo lên thụt dầu ánh sáng bùng lên, tôi lại muốn có một cái như vậy. Đèn dầu nhà mình thì tù mù, mối bay đầy chung quanh. Đèn hàng xóm bao giờ cũng nhoáng hơn đồ nhà. Mua được cái đèn cũ giá mấy đồng bạc về. Tôi thích quá, mặc kệ vợ la cái ông này điên. Vợ tôi hiểu tôi hơn ai hết. Bít tết không ăn mà chỉ thèm canh khoai mỡ kèm dưa mắm, món truyền thống CV. Sau một hồi chà giấy nhám cái đèn fabriqué en France chính hiệu sáng bóng. Chạy ra tiệm mua ít dầu hỏa đổ vào, nổi lửa. Ngồi ngắm ánh sáng đèn dầu tỏa ra hả hê trả thù được chú ba tàu hàng xóm. Ngay đêm đó tôi nằm mơ gặp chú… thần đèn Aladin. Ta cho ngươi một điều ước. Tôi hỏi Ngài có biết bài hát ‘’Kỷ Niệm’’ của mít tờ Duy Phạm hay không? Ta là Mohammed Aladin đến từ xứ dầu hỏa Trung đông, đâu biết tay xì dầu biển đông nào đó, nói mau điều ước nếu không hoặc ngươi biến hoặc ta biến. Tôi vội hát liền mấy câu nhạc Phạm Duy để nói lên ước nguyện của mình “Cho đi lại từ đầu, chưa đi vội về sau, xin đi từ thơ ấu…’’. Tôi hát vừa dứt câu nghe một tiếng nổ, rồi từ trong cuộn khói có tiếng phán ra: ‘’Về nhà đi con, để ta đi hỏi ông cố nội ta xem có làm được không ‘’.

Kỷ niệm 50 năm vào Trường, 1969-26/7-2009.

Khanh 856