Chủng viện là những kỷ niệm đẹp nhất mà tôi không thể nào quên – vũ quốc tịch ’64

Ngày ấy, tôi như con chim non ngồi chăm chỉ học bài, lắng nghe và khắc ghi những lời huấn đức của cha Giám đốc sẽ trở nên hành trang quý giá cho tôi. Về môn văn, tôi rất thích học “Tam Thiên Tự” là một cuốn sách hay, dễ học, dễ nhớ vì có vần và có đối, học luôn được cả chữ Hán và chữ Nôm:

  1. thiên trời – 2.  địa đất – 3.  cử cất – 4.  tồn còn – 5.  tử con
  2. tôn cháu – 7.  lục sáu – 8.  tam ba – 9.  gia nhà – 10.  quốc nước
  3. tiền trước – 12.  hậu sau – 13.  ngưu trâu – 14.  mã ngựa – 15.  cự cựa
  4. nha răng – 17.  vô chăng – 18.  hữu có – 19.  khuyển chó – 20.  dương dê
  5. qui về – 22.  tẩu chạy – 23.  bái lạy – 24.  quỵ quỳ…

Đặc biệt giờ huấn đức với chủ đề rất hay thời ấy: “Giờ nào việc nấy, việc nào chỗ nấy” qua giọng nói truyền cảm, ấm áp, cuốn hút, được lặp đi lặp lại của cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Hữu Tấn vẫn in đậm trong trí tôi và đem lại rất nhiều điều bổ ích cho cuộc sống tôi đến mãi hôm nay. Không hiểu vì sao tôi lại thích những bài giảng về đạo đức của cha Giám đốc đến như vậy. Có lẽ vì tôi thích những câu nói sâu sắc, những câu nói khiến tôi phải suy nghĩ thật lâu mới có thể ngấm, mới có thể hiểu và khi hiểu ra rồi, khiến tôi phải nhìn lại bản thân và thay đổi.

Chủng viện nơi trở thành lựa chọn số một mỗi khi tôi muốn tìm “một cái gì đó cho riêng mình” và là nơi mang lại cho tôi sự say mê, rung động, khao khát vươn tới những điều cao cả.

Tôi biết nhìn nhận như thế là hơi phiến diện nhưng tình cảm dành cho mái trường Chủng viện Thánh Giuse ngày ấy đã trở thành duy nhất, vĩnh viễn, bất biến, đẹp lung linh, dễ rung động, không thay thế được! Vẫn biết tuổi trẻ, là những đam mê cháy bỏng, là những nông nổi và bồng bột nhất thời, là những khát vọng, nuối tiếc.

Bây giờ sau hơn nửa thế kỷ, mái tóc đã hoa râm, nhớ lại cái thời lưu luyến ấy, ai cũng thấy còn tươi nguyên cảm xúc, như câu chuyện mới xảy ra hôm qua hoặc hôm nay thôi.

Thấm thoắt đã 58 năm trôi qua, 58 năm với biết bao nhiêu biến cố, bao nhiêu sóng gió, thăng trầm và chông chênh của cuộc đời, tôi hướng về Chủng Viện như hướng về sự hoài niệm: một không gian xa xưa có tuổi thơ, có tình cha giáo, bạn bè, có hạnh phúc và sự yêu thương. Vẫn biết, mỗi người có hoàn cảnh và điều kiện khác nhau, nhưng đến đây ai cũng dành tình cảm đặc biệt cho mái trường thân yêu đã che chở, nuôi dưỡng, giáo dục mình nên người. Có lẽ thế, khi gặp lại, khoảng cách về công việc, giàu nghèo, may mắn, thành công hay rủi ro lận đận không là bức tường ngăn cách mà có lẽ chỉ là đến  để hàn huyên say sưa, sôi nổi nhất vẫn là ôn lại kỷ niệm về tình thầy trò và bạn bè.

Tuổi thơ chất chứa bao trong sáng, bao đẹp đẽ lúc cùng học tập, cùng vui chơi và cùng đọc kinh, tham dự Thánh lễ mỗi ngày.

Tôi và các bạn bây giờ ai cũng về nghỉ hưu để tìm một khoảng lặng trong tâm hồn. Mỗi người đều có một lựa chọn riêng, một con đường riêng, một cuộc sống riêng nhưng dường như ai cũng nhớ về những năm tháng ấy, lúc còn học dưới mái trường này.

Các cha giáo có đời sống giản dị, thanh cao. Các ngài không chỉ truyền dạy cho tôi kiến thức mà còn là cách sống, đạo lý làm người. Các ngài luôn hướng tôi đến những điều hay lẽ phải và là những nhà giáo dục Đức Tin, đã và đang ngày ngày cần mẫn vẽ lên gương mặt Chúa Giêsu thật đẹp trong tâm hồn tôi.

Bạn bè là những người đồng hành cùng chia vui sẻ buồn với tôi trên hành trình dâng hiến. Bạn bè khắc đọng lại trong tôi một dấu ấn lạ kỳ nào đấy, khiến tôi cứ mãi nhớ đến nhau, nghĩ về nhau bằng một tình cảm trong sáng và hồn nhiên, không chiếm đoạt nhưng chia sẻ, không nắm giữ nhưng đan quyện vào nhau. Đồng thời cũng cần có sự nâng đỡ che chở của ơn Chúa, của Mẹ Maria, các Thánh và cứ mãi tiến về phía trước bằng tất cả sự nỗ lực của bản thân, chẳng chút gì ngần ngại. Khi trở thành linh mục, tôi sẽ bước ra cánh đồng vàng bát ngát nhưng lại đang thiếu rất nhiều thợ gặt, thể hiện bằng sự khiêm nhường phục vụ, chết đi cho ý riêng để Thánh Ý Thiên Chúa được biểu lộ.

12 năm! Chặng đường dài không nghỉ. Là con đường xanh thẳm bước chân đi. Bao năm rồi gắn bó với nơi này nơi nọ, ngày ngày ước ao được vươn mình đến những gì tươi mới. Giờ chỉ còn là kỷ niệm. Lẳng lặng ngẫm suy những nỗi niềm trong quá khứ, cất giữ tất cả thành màu ký ức khó phai mờ.

Sau một thời gian cất bước theo Chúa mà không đi đến đích vì đã bỏ lại phía sau bao sự đợi chờ và kỳ vọng. Hôm nay dừng chân nhìn lại chặng đường đã đi để tạ ơn Chúa và cảm nghiệm ra nhiều điều thật thú vị: Khi mới vào tu, tôi khóc suốt. Khóc bởi nhớ nhà, nhớ cha mẹ và các em. Biết đi tu mà khóc thì quê thật đó, nhưng tôi không thể nín được, nhất là đêm xuống, nhìn qua các bạn nằm cạnh giường tôi cũng lặng lẽ khóc âm thầm thì sao tôi có thể không khóc theo!

Cuối năm đệ thất, tôi về nghỉ hè thì nhận được tin xấu: mẹ tôi bệnh nặng, được chuyển từ Bệnh viện Suối Tre, huyện Xuân Lộc, tỉnh Long Khánh – Nay đổi tên Bệnh Viện Đa khoa Cao Su Đồng Nai lên Bệnh Viện Chợ Rẫy trong tình trạng đau yếu nặng. Tôi thật sự hốt hoảng, trong lòng như lửa đốt, đứng ngồi không yên. Trên đường đến bệnh viện, tôi luôn cầu xin Chúa cho mẹ tôi được gặp thầy gặp thuốc vì nếu mẹ có mệnh hệ gì không biết ơn gọi của tôi sẽ ra sao.

Đến bệnh viện, mạng sống của mẹ tôi như ngàn cân treo sợi tóc! Thậm chí ba tôi đã đi mua quan tài và chuẩn bị đem xác mẹ về.  Nhờ các bác sĩ đã kịp thời chữa trị, và nhất là nhờ lời cầu nguyện của rất nhiều người đã chạm đến lòng thương xót của Thiên Chúa và cách riêng với lời cầu tha thiết hằng ngày của tôi với Mẹ Maria để sự sống trở lại với mẹ tôi. Tròn một tháng nằm điều trị, phép lạ đã xảy ra, bệnh của mẹ tôi không còn trong giây phút “thập tử nhất sinh” mà thuyên giảm dần và sau khi các bác sĩ hội chẩn lại, xét thấy sức khỏe mẹ tôi đã trở lại bình thường, nên cho làm thủ tục xuất viện.

Ở cái tuổi thất thập cổ lai hy, nhiều lúc tôi chỉ có một ước nguyện, quay về với kỷ niệm đẹp ngày xưa, tận hưởng những ân sủng trong Nhà Chúa dường như không bao giờ phai mờ và tình cha giáo, tình bạn bè ngày xưa tôi không bao giờ quên. Chủng viện đã ăn sâu vào tâm can, tiềm thức của tôi. Chủng viện chính là địa điểm lý tưởng để trở về tìm sự an yên và thoát khỏi thành phố ồn ào khói bụi.

Quả thật, mỗi lần trở về Chủng viện, tôi như lữ khách tìm lại tổ ấm yêu thương, “tất cả có bàn tay Chúa dẫn lối”. Ngài dẫn lối và biến đổi tôi qua những nẻo đường ân sủng để tôi trở nên tín thác hơn, xác tín Ngài là gia sản duy nhất của tôi. Tôi chỉ muốn một điều thôi là “được ở trong Ngài mãi mãi” (Ga 15,5)

Cái gì học được ở Chủng viện – những ân tình thì đã in đậm trong tôi. Cho dù có sống ở nơi nào đó xa xôi, nỗi nhớ mái trường Chủng viện cứ luôn còn mãi, theo tôi đến tận vô cùng! Và những giấc mơ được trở về sống trong Chủng viện mới đem lại cho tôi những cảm giác ấm áp, bình yên đến lạ…Trong mơ…Tôi rơm rớm nước mắt, nuối tiếc rất nhiều trong ngày rời bỏ lý tưởng linh mục sau biến cố 30 tháng 4 năm 1975 xảy ra. Xã hội thay đổi hoàn toàn. Xung quanh, bạn bè tôi đều có tâm trạng giống nhau. Đứa bịn rịn không muốn chia xa, đứa đau thắt ruột gan, đứa thất vọng não nề. Tất cả đều mang nỗi buồn khó tả vì phải quyết định từ bỏ đời tu trở về thế gian, dù phải mạo hiểm và chấp nhận rủi ro.

Việc từ bỏ đời tu sau nhiều năm tôi theo đuổi đã ám ảnh, đã nắm tôi thật chặt, ôm tôi thật lâu không dễ dàng thoát ra được. Giấc mơ cuộc đời dâng hiến du dương, ngân nga trầm bổng như một bản nhạc, bản nhạc nhẹ nhàng mà da diết khôn nguôi. Bản nhạc ấy cũng gợi cho tôi chút bâng khuâng, chút chạnh lòng. Ai trong chúng ta cũng có một thời để nhớ và những kỉ niệm chẳng dễ để quên đi. Bản nhạc đó mỗi lần kết thúc lại dấy lên trong tôi những bâng khuâng, nghẹn ngào, xao xuyến. Nhưng, tôi vẫn thích nghe, thích cảm nhận niềm hạnh phúc hân hoan khi được trở về những năm tháng ấy, bên mái trường, bên cha giáo, bên bạn bè và những gì thân thương nhất. Dù biết rằng đó chỉ là một giấc mơ…” Giấc mơ luôn ẩn chứa, luôn da diết trong khát vọng về tiếng lòng: “Tôi yêu Chủng Viện – Một nơi đầy ắp ân tình”.

Và từ đó đến nay, mỗi lần trở lại với giấc mơ của cuộc đời dâng hiến, tôi như được sống lại cùng thời gian, được ấp ôm những suy tư, hoài niệm về những ngày theo đuổi lý tưởng linh mục. Đó là khoảnh khắc đáng nhớ nhất mà mỗi khi nhớ lại, tôi vẫn thấy hạnh phúc đến nhường nào. Nhưng cũng thấm đậm nỗi buồn vì tôi đã không trung thành với lý tưởng mà năm tháng ấy tôi từng theo đuổi.

Mái trường tôi yêu vẫn còn rất nhiều cái đẹp, đã mang đến cho tôi biết bao điều bổ ích để tôi có thể bước tiếp vững vàng trên con đường đời và cho đến ngày dừng bước nghỉ hưu. Thế nên tôi vẫn luôn buồn vui theo sự thăng trầm, đổi thay ở ngôi trường gần tròn 160 năm tuổi. Tôi cố gìn giữ từng phần nhỏ cảm xúc như gìn giữ một góc tâm hồn mình và cả sự luyến lưu muốn trở lại ngày đầu.

Mỗi khi trở về Chủng viện, dạo bước khắp nơi, tôi hay bâng khuâng nghĩ chuyện xa gần. Các cha, các bạn dù đã đi xa, nhưng những hình ảnh ấy cứ hiện diện bên tôi mãi. Ước mong một lúc nào đó “Trung tâm Mục vụ Tổng Giáo phận Sài Gòn” sẽ hoán đổi lại tên “Chủng Viện Thánh Giuse Sài Gòn” như xưa để tôi và các bạn được trẻ lại thời thanh xuân bằng những cái bắt tay, những cái ôm thật chặt, những nụ cười rạng rỡ để mỗi người tiếp tục vun trồng ơn gọi. Sau này ra khắp cánh đồng lúa vàng bao la bát ngát mà đang thiếu rất nhiều thợ gặt để đem thật nhiều linh hồn về cho Chúa.

Để rồi cuối cùng tôi nhận ra rằng, có những cái không phải cứ muốn là được. Và cũng có những ước mơ, những hoài bão mà ta nuôi dưỡng sẽ và mãi chẳng bao giờ trở thành hiện thực…Nên chăng, đừng mộng tưởng quá nhiều mà hãy “Hãy ký thác đường đời cho Chúa, tin tưởng vào Người, Người sẽ ra tay”.

Thân chúc các bạn luôn mạnh khỏe, vui vẻ, hạnh phúc bên nhau. Chúc bạn bè mình mỗi khi có dịp gặp lại là một ngày vui, là một ngày không thể nào quên đối với tất cả chúng mình, những người đã có mặt tại ngôi trường này để đi cùng năm tháng, còn mãi với thời gian và để cùng viết thêm những điều tốt đẹp nhất trong ký ức.