Mục tử nhân lành động lòng xót thương – vũ quốc tịch ’64

Vô tình nghe được một câu chuyện, một người đi ngang qua nhà thờ Chánh tòa đang cử hành Thánh lễ truyền chức linh mục, thấy đám đông tấp nập, rực rỡ cờ hoa, người người áo quần sang trọng; anh ta thắc mắc hỏi người đang đứng kế bên: Chuyện gì vậy?

À, đang có thánh lễ truyền chức linh mục. Người kia trả lời. Vừa nghe xong anh chàng tặc lưỡi rồi nói: Lại sắp có một đám ăn bám ra đời.

Linh mục kẻ ăn bám? Bản thân là một cựu chủng sinh, tôi xót xa khi đối diện với sự so sánh này. Tôi không dám trách anh thậm chí còn phải cảm ơn anh, vì nhờ anh tôi có cơ hội để nhìn lại hành trình đời dâng hiến của mình cũng như thiên chức linh mục mà tôi đang dần tiến đến. Tự hỏi lòng: làm một linh mục có nghĩa là gì vậy?

Trong mắt mọi người, đặc biệt là những phụ nữ đạo đức, linh mục luôn ở một vị thế cao. Linh mục được mọi người kính trọng, vì họ là người của Chúa mà. Khi đi lễ, người dân thì phải chen chúc giành chỗ ngồi, còn linh mục đã được chuẩn bị cho sẵn những chiếc ghế êm, có quạt mát. Của ăn ngon cũng dành cho linh mục. Người ta không dám xúc phạm đến linh mục vì họ sợ bị Thiên Chúa phạt. Được một vị linh mục chúc lành, được bắt tay với một vị linh mục, thậm chí được chụp hình chung với một vị linh mục thôi, cũng đủ làm người ta hạnh phúc suốt mấy ngày. Bề ngoài thì cũng giống như bao nhiêu người khác thôi, nhưng họ có quyền tha tội cho người khác, lời nói của họ có trọng lượng hơn, chỉ cần giang tay, đọc vài lời nguyện, chia sẻ một chút, họ đã có thể kiếm “chút ít” để trang trải cuộc sống rồi. Linh mục chỉ là như thế thôi sao?

Họ có được những đặc ân như thế, có lẽ bởi vì họ là số ít được tuyển chọn giữa nhiều người. Đâu phải dễ mà trở thành linh mục, được trao chức thánh, “hân hoan bước lên bàn thờ” dâng của lễ. Đã có rất nhiều người cùng đi chung với họ, nhưng đã “bỏ dở cuộc chơi”, đã rẽ sang hướng khác vì thấy con đường này không hợp với mình. Trong số đó có những người tài giỏi hơn họ, thánh thiện hơn họ. Con đường đi tu đâu phải là con đường ai muốn cũng đi được, đâu phải chỉ dùng ý chí mà bước tới. Nó là cả một ơn gọi, một mầu nhiệm. Phải chẳng vì ít người đạt được, nên người linh mục cũng mặc nhiên được xếp hơn người khác? Nên sau thời gian làm linh mục thái độ và cách sống của họ đã có thay đổi. Hình ảnh rất đẹp ban đầu có còn không, hay đã mờ dần và biến mất

Trong tập san “Một Thời Để Thương” của lớp Mình, với bài viết “Thân tặng các bạn linh mục tôi yêu” trang 86 có đoạn: “Ngày thụ phong linh mục là thêm một thằng mất dạy” của một người bạn đời nói thẳng với bạn mình là linh mục. Câu nói nửa vui nửa thật, nhưng nó rất cần thiết để cảnh báo và để sửa mình cho các bạn trong những năm tháng còn lại của đời linh mục. Vì chính khi mình thấu đáo để đang bị mất dạy thì cũng chính là khi mình “đang tự dạy dỗ lấy bản thân mình vậy”. Hơn nữa khi các bạn được thụ phong làm linh mục, kể từ giây phút đó, có mấy ai dám lên tiếng, góp ý dạy bảo cho các bạn biết những việc làm sai trái để có cơ hội sửa sai? Mà chỉ là những lời xưng tụng, khen ngợi, nịnh nọt đã làm cho các bạn yên ngủ trong niềm tự hào xen chút kiêu hãnh!

Họ không còn là mục tử nhân lành động lòng xót thương. Họ chỉ động lòng tham, động lòng dục, động lòng sân si ganh ghét, động lòng kiêu hãnh tự tin, động lòng nhạy bén về những thứ khác… Con chiên mà họ có nhiệm vụ chăm sóc không còn trong trái tim của Mục Tử Tốt Lành. Họ không còn nhìn thấy những đám đông dân chúng bơ vơ vất vưởng hay những ai đó cùng cực thống khổ. Chiên bị họ bỏ bê, bị dẫn dắt đi lạc, thậm chí bị khai thác và bóc lộ…Vì họ không phải là mục tử đích thực tốt lành, mà là những kẻ chăn thuê!…

Linh mục đích thực là khi đứng trước tình trạng bất công, áp bức, tội ác tràn lan trong xã hội phải biết phẫn nộ đối với những kẻ gây nên tình trạng ấy. Linh mục đích thực là khi thấy anh em của mình bị kẻ có quyền hiếp đáp phải can thiệp hay lên tiếng bênh vực.

Năm 2020, đáp lại Thượng Hội Đồng Giám mục vùng Pan-Amazon họp tại Rôma, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã ban Tông huấn Quêriđa Amazônia.  Trong Tông Huấn đoạn 15 có tựa đề «Cảm thấy phẫn nộ và cầu xin tha thứ», Ngài viết: 

«Chúng ta cần phải phẫn nộ như Môsê từng phẫn nộ (xem sách Xuất Hành 11:8), hay như Chúa Giêsu đã từng giận dữ (xem Tin Mừng Máccô 3:5), hay như Thiên Chúa đã từng nổi giận trước bất công (xem Ngôn sứ Amót 2:4-8; 5:7-12; Thánh vịnh 106:40). Quả là không tốt khi chúng ta trở nên quen thuộc với cái ác; quả là không tốt khi ý thức xã hội của chúng ta bị mờ nhạt trước “tình trạng bóc lột đang để lại sự hủy hoại và thậm chí chết chóc trên khắp khu vực của chúng ta… nó gây nguy hiểm cho cuộc sống của hàng triệu con người và đặc biệt là môi trường sống của nông dân và người dân bản địa”».

Theo tinh thần Tông huấn Quêriđa Amazônia của Đức Giáo Hoàng Phanxicô nói trên, thì người sống đạo đức Kitô giáo, nhất là những người rao giảng đạo đức ấy phải biết biểu lộ phẫn nộ, ít nhất bằng những lời nói hay việc làm cụ thể, chứ không thể tỏ ra vô cảm, vô trách nhiệm làm như mọi sự vẫn đang luôn luôn tốt đẹp.

Các vị mục tử nên tự hỏi: Mục đích của việc tấn phong linh mục hay giám mục là để làm gì? Chẳng lẽ trong hội đường Do Thái, Đức Giêsu trưng dẫn lời ngôn sứ Isaia chương 61 câu 1 là không đúng sao? Khi ấy Ngài đọc: «Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã XỨC DẦU TẤN PHONG  tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi CÔNG BỐ cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, TRẢ LẠI TỰ DO cho người bị áp bức, CÔNG BỐ một năm hồng ân của Chúa.» (Luca 4:18-19).

Rõ ràng theo Thánh Kinh thì việc xức dầu tấn phong một ai làm ngôn sứ, đâu phải chỉ là để người ấy loan báo Tin Mừng hay chỉ làm những nghi thức tôn giáo mà thôi, mà còn để người được tấn phong giúp kẻ bị giam cầm bất công được tha, cho người mù thể chất hay tinh thần được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức… Nhiều vị được tấn phong làm ngôn sứ thời nay dường như đã quên hẳn mấy bổn phận quan trọng nhất trong chức năng ngôn sứ mà mình đã lãnh nhận khi lãnh chức linh mục rồi! Nếu làm ngôn sứ chỉ để loan báo Tin Mừng mà thôi, thì tại sao các ngôn sứ thật lại bị người đời bạc đãi, như Đức Giêsu từng xác định? (xem Mátthêu 5:12b; 23:34-35). Chắc chắn là vì các vị đã lên tiếng tố cáo những sai trái hay tội lỗi của dân chúng và cả những kẻ đang nắm quyền, dù là thế quyền hay giáo quyền. Cái chết của Gioan Tẩy giả và của Đức Giêsu là những minh chứng cụ thể. 

Đọc suốt 4 sách Tin Mừng và các sách khác của Tân Ước, ta không hề thấy Đức Giêsu và các vị viết Thánh Kinh có chỗ nào đề cao hay coi trọng các nghi thức tôn giáo cả. Chính Đức Giêsu từng nói: «Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế» (Mátthêu 9:13).

Qua câu này, những người rao giảng Tin Mừng lẽ ra phải nhận ra Thiên Chúa, hay Đức Giêsu coi trọng cái nào hơn cái nào! Nên nhiều Kitô hữu, kể cả nhiều vị lãnh đạo, đã bị lạc đạo trong quan niệm và trong thực hành.

Nghi thức tôn giáo mà Đức Giêsu thực hiện trong cuộc đời của Ngài, chính là cuộc tử nạn trên thập giá chỉ vì «yêu thương nhân loại đến cùng» (Gioan 13:1b). Chính vì yêu thương nhân loại như thế, Ngài đã từ bỏ chức vị Thiên Chúa vô cùng cao sang để sinh xuống làm người thấp hèn, hầu chia sẻ thân phận con người, hầu trải nghiệm thực tế những đau khổ, yếu đuối của họ để thông cảm và tha thứ cho họ. Cuối cùng Ngài đã chết đau khổ và nhục nhã trên thập giá để cứu chuộc con người. Chính việc chết vì yêu thương con người ấy là nghi thức tôn giáo đẹp lòng Thiên Chúa nhất, và được Giáo Hội coi là hy tế hay nghi thức tôn giáo quan trọng nhất.

Chức linh mục được thể hiện rõ ràng nhất khi linh mục cử hành Bí tích Thánh Thể. Nó không đơn giản chỉ là nghi lễ bên ngoài hay việc phải cử hành cho đúng nghi thức. Trung tâm điểm của Bí tích Thánh Thể đối với linh mục có lẽ được tìm thấy rõ nhất trong lời truyền phép mà các ngài đọc mỗi ngày khi cử hành Bí tích Thánh Thể: “Này là Mình Thầy sẽ bị nộp vì các con”. Các linh mục không chỉ nói những lời đó, nhưng còn phải sống những lời đó và được thực hiện trong đời thực với sự hy sinh cụ thể cho những người mà các ngài phục vụ, chứ đâu chỉ là những biểu tượng mà thực hiện thì chẳng cần một chút hy sinh! Trong khi bản chất của mọi hy tế đều đòi hỏi phải có hy sinh, không có hy sinh thì không thể gọi là hy tế được!

Linh mục Antoine Chevrier, người sáng lập Hội Các Linh Mục Prado, đã nói: «Linh mục là người bị ăn. (Linh mục) phải trở nên thứ bánh ngon» (Le prêtre est un homme mangé. Il faut devenir du bon pain / The priest is an eaten man. He has to become good bread). Trở nên «bánh» để «bị ăn», và trở nên «rượu» để «bị uống» theo nghĩa của cha Chevrier mới là thực hiện đúng nghĩa nhất từ “hy tế”.

Sứ mệnh của người mục tử nhân lành không chỉ là để giúp người tham dự hiểu Tin Mừng, mà nhất là hiểu để sống hay để thực hiện được điều cốt yếu nhất của Tin Mừng là tình yêu thương đồng loại, dám chấp nhận «bị ăn», «bị nộp», «bị đổ máu», nghĩa là dám hy sinh, đau khổ một cách cụ thể để thực hiện tình yêu thương ấy. Điều đó tốt hơn là chỉ đọc và giải thích lời Chúa, mà không đưa ra một mẫu gương hy sinh cụ thể nào của chính mình hầu người nghe có thể noi gương bắt chước.

Nhưng làm sao phân biệt được mục tử nào là thật và mục tử nào là giả? Quả thật, Thánh Phaolô cũng phải công nhận việc phân biệt ấy thật khó, thậm chí rất khó, vì ngài viết: «chính Xatan cũng đội lốt thiên thần sáng láng!»

Có người nhận xét mục tử thật chính là những vị tư tế, thay mặt dân dâng lên Thiên Chúa những của lễ và cầu xin ơn lành của Chúa ban xuống cho dân, là người có tinh thần từ bỏ đã thanh thoát khỏi bụi trần, không còn vương vấn với hồng nhan, không còn chút dính bén gì với cuộc đua tranh căng thẳng nơi trần thế, là người luôn có lòng thương cảm dành cho con người, luôn thao thức trước đồng lúa mênh mông không người gặt và đàn chiên bơ vơ không người chăn dắt. Họ thổi vào nhân gian luồng gió mới, họ đánh thức con người khỏi giấc mộng mê muội của những cái mau qua. Họ chiếu sáng thế giới bằng ánh sáng nhân đức và sưởi ấm lòng người bằng ngọn lửa yêu thương. Họ đến “để phục vụ chứ không phải để được phục vụ”; họ gắn kết cuộc đời mình với mọi con người dù người đó có giàu sang hay nghèo khổ, thánh thiện hay tội lỗi, cao sang hay hèn kém. Họ đảm bảo cho người ta hạnh phúc Nước Trời “anh sẽ được ở trên Thiên Đàng với tôi”; họ trao ban bình an, sự tha thứ và đưa người ta đến cuộc sống mới tươi đẹp hơn “cứ về đi và từ nay đừng phạm tội nữa”.

Tuy nhiên để phân biệt được điều đó, Đức Giêsu đã đưa ra một số nguyên tắc hay tiêu chuẩn: «Anh em hãy coi chừng các ngôn sứ giả, họ đội lốt chiên mà đến với anh em; nhưng bên trong, họ là sói dữ tham mồi. Cứ xem họ sinh hoa quả nào, thì họ biết họ là ai. Ở bụi gai, làm gì có nho mà hái? Trên cây găng, làm gì có vả mà bẻ? Nên hễ cây tốt thì sinh quả tốt, cây xấu thì sinh quả xấu. Cây tốt không thể sinh quả xấu, cũng như cây xấu không thể sinh quả tốt. Cây nào không sinh quả tốt, thì bị chặt đi và quăng vào lửa. Vậy, cứ xem họ sinh hoa quả nào, thì biết họ là ai» (Mátthêu 7:15-20). Ngài cũng đưa ra tiêu chuẩn để phân biệt giữa mục tử và người chăn thuê: «Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho chiên. Kẻ chăn thuê, vì không phải là mục tử và vì chiên không thuộc về anh, nên khi thấy sói đến, anh bỏ chiên mà chạy. Sói vồ lấy chiên và làm cho chiên tán loạn, vì anh ta là kẻ làm thuê và không thiết gì đến chiên»  (Gioan 10:11-13).

Đức Thánh Cha Phanxicô giải thích thêm trong bài giảng Chúa nhật thứ IV Phục Sinh, ngày 09/3/2020 lễ Chúa Giêsu Mục Tử Nhân Lành. Mục tử giả là những người chỉ quan tâm đến việc tạo dựng sự nghiệp, chính trị hoặc tiền bạc. Còn Mục tử nhân lành: “Một trong những dấu hiệu để nhận ra mục tử nhân lành đó là sự hiền lành. Ai không hiền lành thì có một điều gì đó còn ẩn giấu. Người mục tử nhân lành còn là người dịu dàng. Sự dịu dàng thể hiện trong việc gần gũi, chăm sóc từng con chiên như thể đó là con chiên duy nhất. Và sau một ngày làm việc mệt mỏi, người chăn chiên trở về nhà và phát hiện có một con bị lạc mất, ông liền ra đi tìm nó và vác nó trên vai đưa về nhà. Đây chính là Chúa Giêsu, Đấng luôn đồng hành với tất cả chúng ta trong suốt cuộc đời”.

Chúng ta cảm tạ Chúa về Đức thánh cha Phanxicô, nối vào những vị giáo hoàng tuyệt vời mà Chúa ban cho ban cho Giáo hội thời đại không êm ả này. Và chúng ta cầu nguyện cho các giám mục, các linh mục đừng thừa ra (!) nhưng trở nên thực sự là hiện thân của Vị Mục Tử Tốt Lành duy nhất, biết động lòng xót thương những con chiên bơ vơ vất vưởng đó đây, rất nhiều, nhiều lắm…

Trong ơn gọi của mỗi người chúng ta, dù là hôn nhân, sống độc thân, đời linh mục, đời sống tu trì, nếu chúng ta biết cho đi cuộc sống của mình trong tình yêu, thì lúc đó chúng ta sẽ tìm thấy niềm vui và mang lại niềm vui cho người khác. Một linh mục dâng hiến cuộc đời mình trong tình yêu thương, thực sự yêu thương những người mà mình phục vụ, thì linh mục đó sẽ tìm thấy niềm vui trong chức vụ của mình và mang lại niềm vui cho những người mà mình phục vụ.                                                                                                                        

LẠY CHÚA GIÊ-SU.
Xin ban cho chúng con những linh mục quảng đại, hy sinh phụng sự Chúa và phục vụ tha nhân.
Xin ban cho chúng con những linh mục có trái tim biết yêu thương bằng tình yêu của Chúa, một trái tim mở rộng đón nhận mọi người, nhất là những người đau khổ bất hạnh.
Xin ban cho chúng con những linh mục có đức tin vững mạnh, luôn sống kết hiệp mật thiết với Chúa, để giúp chúng con gặp được Chúa.
Xin ban cho chúng con những linh mục biết nhiệt tình rao giảng Lời Chúa, có sức làm bùng cháy ngọn lửa yêu thương trong lòng chúng con, giúp chúng con thêm đức tin để nhìn thấy Chúa hiện thân trong mọi người nhất là những người nghèo khổ và sẵn sàng phục vụ họ.
Cuối cùng xin Chúa ban cho chúng con những linh mục là những chủ chăn tốt lành luôn biết noi gương Chúa: “Đến để cho chiên được sống và sống dồi dào”. AMEN. (Tổng hợp)