Thung Lũng Mặt Trời – Lm. Đinh Đức Hảo ’69

Sau một ngày vất vả với mấy cái máy trong hãng, tôi tranh thủ về nhà rửa mặt, và xem lại địa chỉ của cha Hảo thật kỹ, ghi vào tờ giấy nhỏ bỏ vào túi cho khỏi quên, rồi để vợ con ở nhà, nhập vào dòng xe đông nghẹt đường phố, đến đón Phát.

Lái xe trong giờ tan sở khiến tôi cảm thấy mỏi mệt hơn thường nhật, đương nhiên rồi, mình đâu còn  trẻ như ngày xưa nữa. Tôi xếp hàng nhích lần lần theo giòng xe chật cứng xa lộ, sau cùng cũng đến nơi bằng an. Tôi ngạc nhiên thấy Phát mở cửa bước ra một mình, nó nói vợ nó đang bận dọn dẹp trong nhà nên không theo được. Tốt quá, tôi cảm thấy thích thú như được sống lại thời độc thân tự do ngày xưa, đi chơi thỏa thích với bạn bè, không vướng víu ai…. Tôi đưa cho Phát tấm bản đồ (vì không biết dùng ứng-dụng bản đồ của điện thoại thông minh), dặn nó ngày xưa cậu đã từng đi hướng đạo nên hãy cẩn thận dò đường giùm tôi vì tôi chưa đến xứ St Martin của thành phố Sunnyvale bao giờ

Cũng may cho tôi, đường lên phía bắc không bị kẹt xe vì tại Thung lũng Điện tử, người dân thường mua nhà ở phía nam, giá nhà rẻ hơn, khi đi làm thì lên phía bắc, nơi có nhiều hãng xưởng, nhiều việc làm. Đầu óc tôi cũng đỡ căng thẳng, và khi đi vào ranh giới Sunnyvale, đường xá càng thông thoáng hơn. Chúng tôi đến nơi khoảng sau 7 giờ tối, tuy vậy thời gian này mặt trời đã lên trên đường xích đạo, nên nắng ắm hơn, và trời mùa xuân còn rất sáng. Tại văn phòng giáo xứ mấy người nhân viên đang đóng cửa ra về. Cha phó Hảo ra đón chúng tôi, vui mừng gặp lại Phát sau một thời gian quá dài. Phát chụp ngay với cha mấy tấm hình kỷ niệm trước mặt tiền nhà thờ. Rồi cha đưa chúng tôi đi thăm nhà thờ. Tôi thắc mắc tại sao lại có pho tượng thánh màu trắng bên hông nhà thờ mà không phải màu đen, thì cha giải thích rằng đây là nhà thờ Thánh Martin de Tours chứ không phải Thánh Martin de Porres người da đen. Đã hết giờ lễ nên cửa nhà thờ được khóa lại. Cha mở cửa dẫn chúng tôi vào. Bên trong nhà thờ rộng lắm, hai bên ghế ngồi chứa được cả một ngàn người, loại ghế ngồi và bàn quỳ dính liền nhau. Tuy vậy cha tiếc rằng giáo dân ở đây không đông, không muốn định cư lâu dài, nên không được mấy người tình nguyện phụ giúp giáo xứ, vì thế hai cha phải lãnh hai lớp giáo lý thêm sức cho thanh thiếu niên, đây là lứa tuổi mà cha than rằng rất khó dạy! Trong nhà nguyện nhỏ bên cạnh, vài giáo dân đang chầu Thánh thể. Chúng tôi lặng lẽ bước ra ngoài.

Rồi cha hướng dẫn tôi lái xe đến một tiệm phở cách đó không xa, tên là phở Nam (lần sau nhớ để tránh). Tiệm vắng khách, người chủ nói tiếng Việt nhỏ nhẹ, giọng bắc 75 khá nặng. Phở nấu không thể ngon như ở dưới San Jose. Chúng tôi ăn một bữa tối đơn giản với nước trà nóng, ăn cho qua bữa, vừa ăn vừa nghe cha kể chuyện sinh hoạt tại giáo xứ, chuyện đi thăm viếng và đem Mình Thánh Chúa cho kẻ liệt… Khi chúng tôi bước ra, màn đêm đã buông xuống, cơn gió cuối ngày thổi nhẹ nhẹ, mát mẻ.

Chúng tôi trở về văn phòng giáo xứ, giờ này vắng lặng không còn ai. Cha dẫn chúng tôi vào phòng làm việc của cha, khá rộng rãi, nhiều sách đạo xếp trên kệ tủ, sách báo đầy trên bàn, vài thùng giấy còn dán băng keo nằm trong góc. Chúng tôi cùng ngồi xuống ghế, tiếp tục câu chuyện. Vợ con không có mặt ở đây, khiến chúng tôi có cảm tưởng như thuở ngày xưa trong Chủng viện. Đến giờ điểm danh, cha hỏi chúng tôi về những anh em đã qua đời, những người còn giữ liên lạc, những người mất dấu tích… Chúng tôi bình thản thưởng thức những giây phút riêng tư quí báu trong đêm thanh vắng. Tôi muốn lưu lại bằng một tấm hình kỷ niệm (Phát gọi bằng từ “sống ảo” tôi nghe lạ tai) nên rút trong túi ra cái máy chụp hình Nikkon nhỏ cũ kỹ, đặt lên bàn, loay hoay tìm nút timer. Thấy tôi cứ mò mẫm mãi không xong, cha cười bảo chắc tôi it khi xài tới nên không quen, dù sao cái này bây giờ là đồ cổ rồi nên quí lắm đây. Tôi trả lời cha nó quí vì nó là quà tặng của một người bạn bên South Carolina. Sau cùng tôi cũng tìm ra cách chụp chậm, tìm được hình cái đồng hồ, rồi nhấn nút chụp. Máy “chờ” năm giây, tôi và Phát bước đến đứng hai bên cha, nó nhẹ nhàng nhá đèn báo rồi đánh flash. Tôi hài lòng với tấm hình này hơn là kiểu selfie của điện thoại thông minh thời nay.

Chúng tôi tiếp tục quay ngược cuốn băng cuộc đời về những năm tháng đầu tiên ở Chủng viện, nhắc lại tên các cha giáo, những vị đã được Chúa gọi về, những vị còn lại đang đi những bước cuối cuộc đời. Chúng tôi nhắc nhở với lòng biết ơn vì công lao day dỗ của các ngài. Tôi nhớ mãi một lần ngồi trong quán cà phê với Antôn Đoàn, anh vừa hút một hơi thuốc lá vừa nói như với niềm xác tín rằng chúng mình được hưởng một nền giáo dục tốt nhất miền Nam. Lúc đó tôi và Thường rất đồng ý với anh, đơn giản bởi vì chúng tôi được dẫn dắt bởi những vị thầy quá đạo đức tốt lành. Sau này tôi cũng biết thêm rằng dòng Don Bosco, dòng Chúa Cứu Thế, dòng Tên… cũng là những môi trường huấn luyện tu trì tốt đẹp không kém, có khi còn hơn Chủng viện Thánh Giuse nữa. Rồi chúng tôi nhớ lại ba thầy giám thị của năm đầu tiên, thầy Ý, thầy Hải, thầy Đông, cùng những anh lớp 12 làm đội trưởng của chúng tôi, còn in khá rõ nét trong ký ức của những đứa chân ướt chân ráo chúng tôi. Phát nhớ lại một chuyện vui về huynh trưởng Liêm, sau này có lần gặp lại Phát anh lễ phép xưng em khiến Phát bật cười và nói với anh rằng mình là em út, thuộc lớp 69, anh đừng xưng hô như thế. Tôi bảo Phát anh Liêm nhầm lẫn cũng phải bởi vì cậu tướng tá ngon lành quá ai mà không nể, nên anh Liêm xưng em với cậu đâu có gì lạ. Trong thâm tâm tôi vẫn nhận thấy tướng của Phát đạo mạo như cha cố chứ chẳng phải giáo dân thường. Nhìn kỹ tấm hình thấy nó mặt mũi đâu kém gì cha Hảo, nếu hai người có đi đâu chung với nhau, giáo dân ở đây không biết dám chào hai cha (Hi, Fathers số nhiều) luôn cho tiện.

Cuốn phim cuộc đời ngưng lại ở năm 1975, một thời điểm quan trọng của đất nước. Cha Hảo nhận định rằng nếu không có biến cố tháng Tư năm 75 thì lớp mình sẽ có nhiều anh chịu chức linh mục lắm chứ không ít ỏi như hôm nay đâu. Cha kể ngày còn ở xứ Nam Hòa, có lần ghé vào thăm nhà Giuse Chưởng, ông bố đã tính trước rằng năm 1984 là các anh được chịu chức linh mục đấy. Than ôi, ông đâu ngờ lịch sử lại sang trang một cách nghiệt ngã như vậy, và gia đình ông cũng phải chịu mất một người con trong cuộc chiến kế tiếp bên Kampuchea. Nếu mọi sự suông sẻ như ông nghĩ, thì giờ này tôi, Phát, Antôn Đoàn, và mấy anh em ở miền đông bắc xứ tuyết lạnh lẽo chắc chắn cũng Dominus vobiscum như cha Hảo vậy. Ngoài ra ít nhất cũng phải bổ túc thêm ba bốn ông cha nam kỳ ở miệt Gia Định, Đakao, Vĩnh Long nữa, chứ đâu chỉ lẻ loi mấy ông cha bắc kỳ như ngày nay. Riêng tôi, tôi biết chắc rằng mình không có ơn gọi, thôi thì cũng nhờ biến cố tháng 4 năm 75, thứ nhất chấm dứt cuộc huynh đệ tương tàn; thứ nhì, cho tôi cơ hội về sống đời giáo dân tầm thường, dù khô khan tội lỗi ít nhiều, còn hơn là trở thành một linh mục không tốt, lỡ sa ngã làm gương xấu, mang tiếng cho Giáo hội.

Trong khi đang cùng lần giở lại những trang giấy quá khứ đã mờ nhạt, tự dưng cha Hảo hỏi chúng tôi có ai nhận ra một thanh niên da trắng hay đứng tập tạ bên Đại Chủng viện không? Tôi chịu thua, không nhớ nổi. Phát và cha có trí nhớ tốt hơn tôi. Họ nhớ cả tên người thanh niên đó nữa: đó là Mr. Dương Tấn Bằng. Anh là một người lính Mỹ đi đánh trận bên Việt Nam, sau khi hoàn thành 6 tháng tour of duty, anh không theo đồng đội trở về “thiên dàng hạ giới”, mà chọn ở lại, xin nhận dất Việt làm quê hương, rồi xin vào Đại Chủng viện Thánh Giuse. Tên thật của anh là gì, và ai chọn tên Việt cho anh, không ai biết. Chúng tôi tự hỏi làm sao anh học triết, rồi thần học, tín lý bằng tiếng Việt được. Có thể do anh có năng khiếu ngoại ngữ, nên dễ dàng hội nhập vào giòng văn hóa Việt, rồi học và hiểu tiếng Việt dễ dàng. Những giáo sĩ Pháp và Bồ đào nha ngày xưa đến đây truyền giáo cũng vậy thôi, có khác gì đâu. Trước tiên các ngài phải tìm hiểu ngôn ngữ, rồi mới rao giảng đức tin Kitô giáo, rồi khi nghe tiếng Việt có những từ phát âm giống tiếng Latinh quá, nên các ngài nghiên cứu rồi dùng chữ Latinh phiên âm tiếng Việt. Đây là hai món quà vô cùng quí giá các ngài đem tặng cho nước Việt Nam. Cuối năm 1987 tôi đã gặp một người Mỹ sang công tác bên trại tỵ nạn Galang, Indonesia, ông nói tiếng Việt khá thành thạo. Ông giải thích rằng ngôn ngữ của chúng tôi là chữ Latinh dễ học chứ đâu có gì khó; tiếng Chinese mới khó, ông có học cả đời cũng không xong !

Phát bổ túc thêm tin tức về anh Dương Tấn Bằng: sau khi học xong các lớp Đại Chủng viện, anh được thụ phong linh mục, rồi được bài sai về một xứ đạo nào đó ở Saigon. Sau năm 75, cha Bằng bị trục xuất khỏi Việt Nam, ông xoay sở qua được đất Kampuchea và phục vụ Giáo hội bên đó. Sau này một nhóm anh em nhà ta lần mò sang được đến xứ của cha Bằng, xin ông chỉ đường hoặc cho người dẫn đường để vượt biên sang đất Thái, bị ông khiển trách nặng nề (bằng tiếng Việt, theo tôi nghĩ): tôi là người Mỹ nhưng không về Mỹ mà ở lại đây phục vụ dân Chúa, các anh sinh ra ở đây, sao không lo phục vụ dân Chúa ở quê nhà mà còn muốn bỏ đi đâu? Thôi về nhà đi !

Chúng tôi ngồi yên lặng suy nghĩ về cha Bằng, về ơn gọi lạ lùng của ông. Tôi nhận ra một điều vô cùng quan trọng khi đi theo Chúa là người chủng sinh phải được hoàn toàn tự do và hiểu biết thì mới có thể làm linh mục được. Cha mẹ Việt Nam có con học ở Chủng viện thường hãnh diện được người ta gọi bằng ông cố bà cố nên dễ tạo áp lực lên người con, ít nhiều ảnh hưởng đến tự do của nó. Đứa con có thể có phản ứng ngược lại, sẽ quay đầu sang hướng khác khiến cha mẹ thất vọng, xấu hổ. Đứa còn nào nhượng bộ sẽ tiếp tục đi tới chức linh mục một cách bất đắc dĩ, làm cha mẹ mãn nguyện, nhưng cuộc đời nó sẽ khốn khổ mãi vì không đi đúng đường. Cha Dương Tân Bằng có quyền lên máy bay về nước, nhưng cha tự nguyện ở lại để phục vụ Giáo hội Việt Nam, Giáo hội Kampuchea. Một lựa chọn hết sức cao cả. Hiện giờ cha ở đâu, sức khỏe ra sao? Không ai biết. Cha thuộc lớp đàn anh nên chắc chắn già hơn chúng tôi, sức khỏe chắc chắn cũng đã bắt đầu suy giảm, lại sống ở xứ Chùa Tháp, một xã hội Phật giáo, một thử thách gay go với một linh mục Công giáo. Xin Chúa gìn giữ cha.

Cha Hảo dẫn chúng tôi ra khỏi văn phòng giáo xứ. Ngoài đường vắng tanh, mãi mới thấy một chiếc xe chạy ngang. Xứ này vắng vẻ thật, không như vùng dưới kia xe chạy đêm ngày không lúc nào ngơi.

Con đường bên hông nhà xứ tuyệt nhiên không có một chiếc xe nào đậu dưới đường, giống y như một xứ đạo miền bắc xa xôi lạnh lẽo. Điều này rất hiếm thấy ở đây. Chúng tôi đi qua thăm nhà xứ nơi cư ngụ của hai cha. Đó là một căn nhà nhiều phòng, rất rộng rãi, cho hai người. Cha rót thêm nước lọc cho chúng tôi (tôi đoán có lẽ lượng cholesterol của cha thấp nên uống nước trắng là đủ, trong khi trên kia cha Thuận thì cứ tiếp rượu nho đỏ cho chúng tôi, uồng để giảm cholesterol!). Thời gian trôi qua rất nhanh, giờ đã khuya, chúng tôi cáo từ ra về.

Cha tiễn chúng tôi ra ngoài sân, với chiếc xe cuối cùng đơn độc của tôi đang chờ. Chung quanh chúng tôi không một tiếng động, không một bóng người, chỉ nghe hơi gió lạnh thổi từ phương bắc xuống. Chúng tôi bắt tay cha, hẹn gặp nhau ngày Chúa nhật lễ Lên Trời 2018, ngày mà cha chọn để dâng lễ tạ ơn, kỷ niệm 25 năm đời linh mục

San Jose, CA (viết xong ngày 05-5-2018)