TUỒNG THƯƠNG KHÓ – nguyễn văn dũng ’68

Chúa nhật lễ lá – Bài thương khó theo TM Luca

Năm 1911, Cha GB. Nguyễn Bá Tòng lúc ấy đang phụ trách ký lục (thư ký) Tòa Giám Mục Sài Gòn, khởi sự biên soạn “Tuồng Thương Khó”, dựa vào bản văn ngoại ngữ đã được trình diễn tại Oberammegau, Paris và Nancy, có tham khảo thêm từ “Sách gẫm Sự Thương Khó Chúa Giêsu”. Sau nhiều ngày tháng hoàn chỉnh, chọn người thủ vai diễn, nghiêm túc khổ công tập tành, dàn dựng và quảng cáo theo đúng quy cách kinh điển của sân khấu kịch Tây phương, “Tuồng Thương Khó” chính thức công diễn chào hàng tại trường La Tinh Sài Gòn, gồm 5 suốt vào mùa chay năm 1913, nhân kỷ niệm 50 năm (1863 – 1913) thành lập chiếc nôi giáo dục đào tạo linh mục Sài Gòn: Lúc ấy Đức Cha Lucien Mossard đang cai quản địa phận Tây Đàng Trong. Nhà đạo mình gọi dịp lễ hội trọng đại này là “Mầng Lễ Ngũ Tuần Nhà Trường La Tinh Sài Gòn” (Hình).

 “Tuồng Thương Khó” của GB Nguyễn Bá Tòng, từ lâu đã được lưu giữ tại thư viện của Hội thừa sai Pari (M.E.P) trong ngăn “Théâtre – La Passion”, mang ký hiệu 560, như là một trong những di sản văn hóa để nghiên cứu, tham khảo.

Không lựa chọn cấu trúc của lối viết tuồng hát cũ hay kịch nói phương Tây, Nguyễn Bá Tòng lựa chọn một cấu trúc kịch rất riêng. Tuồng Thương khó chia theo phần, trong mỗi phần có nhiều thứ (khái niệm của tuồng cổ Việt Nam), trong thứ có nhiều hồi (khái niệm của kịch cổ điển Pháp).

Về mặt phân chia cấu trúc vở kịch, phần thứ nhất đóng vai trò giao đãi, giới thiệu bối cảnh và nhân vật: Đức Chúa Giêgiu vào thành Giêrusalem, được muôn dân thiên hạ tung hô như một vị vua, để rồi về sau cũng chính dân này lớn tiếng đòi giết, đòi đóng đinh, càng nhấn mạnh hơn nỗi đau thương của Đức Chúa Giêgiu. Phần thứ nhất cũng đóng vai trò tạo nút thắt ở chi tiết Giudà đưa ra quyết định “bán thầy”. Nghĩa là phần thứ nhất làm nhiệm vụ giao đãi và thắt nút, tương đương với hồi thứ I và II của kịch cổ điển Pháp. Bước sang phần thứ hai, tác giả xây dựng hệ thống sự kiện dồn dập, không gian thay đổi liên tục theo bước chân của Đức Chúa Giêgiu, từ lúc bị điệu về nhà Annát, qua nhà Caipha, đến dinh tổng trấn Philatô, vào ngục cho đến lúc nhận án tử. Cao trào được đẩy đến cùng khi Đức Chúa Giêgiu chịu đóng đinh và chết trên cây thánh giá tại núi Calavariô. Và cuối cùng, việc Chúa Giêgiu sống lại vinh hiển ở thứ thứ mười sáu vừa đúng với những gì Kinh Thánh chép lại, vừa là yếu tố mở nút, và cũng là một màn kết hoành tráng trên sân khấu kịch. Như vậy, phần thứ hai làm nhiệm vụ tạo cao trào và mở nút, tương đương với hồi thứ III, IV, V của kịch cổ điển Pháp. Như vậy, ở đây tác giả vận dụng cách sáng tạo bố cục kịch phương Tây.

Về kết cấu trong từng thứ, tùy độ dài ngắn của sự kiện, số lượng nhân vật trong từng thứ mà có thứ không phân chia hồi, có thứ chia nhiều hồi. Vở kịch bao gồm 36 hồi, trong đó phần hai có 21 hồi. Hồi sẽ đổi khi nhân vật thay đổi. Cách chia này ảnh hưởng hoàn toàn từ cách chia lớp (scène) của kịch cổ điển Pháp, chủ yếu nhắm đến hiệu quả sân khấu, hỗ trợ tốt hơn cho diễn viên và hậu đài trong việc chuyển cảnh. 

Dựa trên nguyên tắc của kịch cổ điển Pháp và tuồng cổ truyền thống, JB. Tòng đã hoàn thiện cấu trúc của vở Tuồng Thương khó với yêu cầu đảm bảo được các chức năng giao đãi, thắt nút, cao trào, mở nút của kịch hiện đại, vừa có sự trân trọng và lưu giữ những giá trị tốt đẹp của tuồng cổ truyền thống. Và trên hết, đó là một cấu trúc phù hợp với cốt truyện có sẵn từ trong Kinh Thánh mà tác giả là người làm công việc đi tìm phương tiện biểu hiện tối ưu nhất.

Âm hưởng

Trước hết là chuyện “tập ảnh – album” chụp những xem cảnh gây ấn tượng của vở tuồng: những vai diễn trung tâm, (chính diện và phản diện) để quảng cáo ở mặt tiền rạp cho công chúng coi: những cảnh sắc phông màn để minh họa làm nền cho sân khấu. Công đoạn thiết kế – trang trí – giới thiệu này, nhờ nét vẽ truyền thần tài hoa của hai nghệ sĩ Phêrô Nguyễn Hữu Hào và Phaolô Hội Ký, càng thu hút đông đảo người xem đến với đêm diễn hơn. Là kẻ hậu sinh, chắc chắn chúng ta không thể có được cái cảm xúc sống động bồn chồn tại chỗ của những người thời đại ấy. Nhưng tôi dám quyết là ở cái khoảnh khắc chực chờ nôn nóng vào tuồng ấy của đám đông rồng rắn, chen lấn nhau xem cho đặng những tiết mục in trên tờ “Cuộc Lễ Chương Trình” – Programme” niêm yết ngay ở cổng chính trường La Tinh Sài Gòn, sân khấu sẽ không còn chỗ trống. Người ta cũng muốn tiếp cận, ít là qua hình ảnh “Các Ngôi Tuồng Thương Khó” – Acteurs de la Passion” của một nhà tuồng có tổ chức theo kiểu cách Tây phương. Đúng là một “théâtre” thứ thiệt với mấy chục vai diễn và kỹ thuật phụ trợ, hậu đài. Từ “ông cố bầu gánh” biên đạo GB Nguyễn Bá Tòng cho đến những người được tuyển chọn vào vai – trong điều-kiện-nhà-chung-thuần-nam-phi-nữ: Thầy Giacôbê Đức (Chúa Giê-su), Thầy Phaolô Hội (Đức Mẹ), Thầy Giacôbê Sính (Thánh Phêrô), Thầy Tư Phước (Philatô), Thầy Bảy Bé (Cai pha), Thầy Hai Cúc (Giu đa) ….. Chúa ôi, thế giới này là của riêng Ađam không thôi ư? Toàn các Thầy, quới chức, toàn cánh mày râu đàn ông con trai với nhau. Ấy thế mà, lạ lùng thay, “Tuồng Thương Khó” vẫn đắt như tôm tươi, vẫn ăn khách, vẫn hút hàng, đâu có thua kém thanh sắc của những ngôi sao sân khấu nổi đình nổi đám ngoài đời!

Và để kết luận, xin đưa ra đại ý mấy nhận xét của giới báo chí thời ấy đánh giá “Tuồng Thương Khó” như sau: “Đêm hát lộng lạc huy hoàng, đã trả lại cho phong trào  thiện kịch nét oanh liệt ngàn xưa: Thành tựu tinh thần, vì các nhà tai mắt đã đến chứng kiến đông đảo và đã nhiệt tình khen ngợi đoàn nghệ sĩ Công Giáo; thành tựu tài chính, vì hai bữa trước ngày hát, không còn một chỗ nào trống nữa; thành tựu trên sân khấu, vì các vai tuồng đã thủ vai của mình rất đúng điệu, xuất sắc, ghi một nét vẻ vang cho đời nghệ sĩ ”. (sưu tầm từ Internet)